giờ đây chỉ cần dự trữ tiền mặt với một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi, phần
còn lại có thể sử dụng để cho vay. Các nhà kinh doanh tiền tệ bắt đầu tập hợp, thu
hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội để đem cho ngời khác vay. Các hoạt động t-
ơng tự nh vậy đã tồn tại từ thời Ai Cập cổ đại. Chẳng hạn, ở Ai Cập, các nghiệp vụ
ngân hàng đã xuất hiện từ 2700 năm trớc công nguyên, còn ở Hy Lạp thời kỳ chiếm
hữu nô lệ, việc quản lý tài chính gắn liền với thánh đờng lớn. ở Roma (Italia) hiện t-
ợng cho vay cầm cố xuất hiện khoảng 500 năm trớc công nguyên. Đến khoảng 200
năm trớc công nguyên thì Roma đã trở thành trung tâm tài chính chủ yếu ở vùng Địa
Trung Hải. Do đó, có thể nói rằng, xứ sở của lĩnh vực ngân hàng là vùng Bắc Italia.
Vào thời kỳ này, những ngân hàng có hoạt động mạnh nhất và có ảnh hởng lớn nhất
là những ngân hàng mà hoạt động của nó gắn liền với sự lãnh đạo của giáo hội Thiên
chúa giáo. Đến đây, các ngân hàng đã bắt đầu tham gia vào quá trình cung ứng tiền.
2. Từ thế kỷ V đến thế kỷ XVII
Đây là giai đoạn phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ của một ngân hàng th-
ơng mại. Các nghiệp vụ ghi chép sổ sách, hình thành các số hiệu tài khoản, chi tiết
đến đối tợng cho vay, mục đích cho vay cũng nh nguồn vốn cho vay - tiền thân của
kế toán ngân hàng ra đời từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ X. Cũng trong thời gian này,
hoạt động thanh toán bù trừ ở dạng sơ khai trong cùng một ngân hàng đã bắt đầu
phát triển và sau đó là hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng. Vào khoảng cuối
thế kỷ thứ X, nghiệp vụ chuyển ngân và bảo lãnh hình thành. Sau đó, vào giai đoạn từ
thế kỷ XI đến thế kỷ XVII nghiệp vụ chiết khấu thơng phiếu bắt đầu phát triển. Cho
đến thế kỷ thứ XVII, các nghiệp vụ của một ngân hàng kinh doanh đã hoàn thiện,
bao gồm:
- Nhận gửi, cho vay
- Phát hành tiền
- Chiết khấu thơng phiếu
- Chuyển ngân, thanh toán, bù trừ và bảo lãnh.
Động lực chủ yếu của quá trình phát triển nhanh chóng này là sự lớn mạnh
không ngừng của các hoạt động thơng mại trong từng quốc gia cũng nh quốc tế cùng
với việc tìm ra Châu Mỹ và các vùng đất mới. Một ngân hàng có hoàn chỉnh các
nghiệp vụ này đã hình thành đầu tiên ở Hà Lan vào năm 1609. Sau đó là ngân hàng
Thuỵ Điển 1656, hệ thống ngân hàng Anh vào năm 1694, hệ thống ngân hàng Hoa
Kỳ vào năm 1791 và ngân hàng Pháp vào năm 1800.
5
3. Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX
ở giai đoạn này, các ngân hàng thực sự đợc công nhận nh một doanh nghiệp
kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và phát hành tiền dới dạng các chứng th và kỳ phiếu
thay cho vàng. Hoạt động này thực sự bắt đầu từ thời kỳ ngân hàng sơ khai trớc công
nguyên. Khi đó, các kỳ phiếu ngân hàng chỉ đợc phát hành mỗi khi có khoản tiền
vàng thực sự đợc gửi vào ngân hàng. Khả năng chuyển đổi kỳ phiếu ra vàng rất dễ
làm cho nó đợc chấp nhận không hạn chế trong lu thông nh một hình thức tiền tệ.
Tuy nhiên, đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng bắt đầu lợi dụng u thế của mình để phát
hành một khối lợng lớn các kỳ phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng, để cho vay, điều này
đe doạ dự trữ vàng và khả năng chuyển đổi ra tiền mặt của các kỳ phiếu đợc phát
hành. Vì tất cả các ngân hàng đều có quyền phát hành tiền nên Nhà nớc không thể
kiểm soát đợc khối lợng tiền trong lu thông và càng không thể kiểm soát đợc tính
chất đảm bảo của lợng tiền lu thông đó. Mặt khác, mỗi ngân hàng có quy mô hoạt
động, uy tín và khả năng ảnh hởng khác nhau trên công chúng bắt đầu có sự lựa chọn
kỳ phiếu đợc phát hành bởi những ngân hàng khác nhau. Kết quả là, các kỳ phiếu do
các ngân hàng lớn có uy tín phát hành dần dần chiếm lĩnh thị trờng và đẩy kì phiếu
của các ngân hàng khác nhỏ hơn ra khỏi lu thông. Đồng thời, sang thế kỷ 18, lu
thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển. Việc các ngân hàng cùng thực hiện
chức năng phát hành giấy bạc làm cho trong lu thông có nhiều loại giấy bạc ngân
hàng khác nhau gây cản trở cho quá trình lu thông hàng hoá và phát triển kinh tế.
Tình trạng này kéo dài gây sự bất ổn định trong lu thông tiền tệ và Nhà nớc buộc
phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát hành tiền và đảm
bảo an toàn cho các giấy chứng nhận nợ của ngân hàng. Kết quả của sự can thiệp này
là hệ thống ngân hàng lớn đợc phép phát hành tiền gọi là ngân hàng phát hành.
Nhóm thứ hai bao gồm các ngân hàng không đợc phép phát hành tiền, chỉ làm trung
gian tín dụng và trung gian thanh toán trong nền kinh tế gọi là các ngân hàng trung
gian. Chúng đợc quyền mở tài khoản và thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng phát
hành, biến ngân hàng phát hành thành trung tâm thanh toán.
4. Từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Thời kỳ đầu khi mới thực hiện sự phân hoá hệ thống ngân hàng, các ngân hàng
trung gian thực hiện tất cả các hoạt động của nó nh nhận tiền gửi, cho vay và làm các
dịch vụ thanh toán. Ban đầu chúng chủ yếu nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn
ngắn và cho vay ngắn hạn. Về sau, các ngân hàng này thực hiện cả cho vay trung và
dài hạn bằng nguồn vốn trung và dài hạn do huy động tiền gửi trung hạn, dài hạn và
phát hành trái khoán.
6
Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện hoạt động của ngân hàng phát hành về tổ
chức, chức năng đồng thời là giai đoạn thành lập một loạt ngân hàng trung ơng mới.
Trớc hết, đó là sự tách rời chức năng độc quyền phát hành ra khỏi chức năng
kinh doanh tiền tệ trực tiếp với công chúng, đợc thực hiện đầu tiên bởi các ngân hàng
Anh và sau đó là các ngân hàng của các nớc khác, nhằm hoàn thiện chức năng quản
lý của ngân hàng trung ơng. Từ năm 1920, hàng loạt các ngân hàng trung ơng mới đ-
ợc thành lập và ngay lập tức đã mang đầy đủ bản chất của một ngân hàng trung ơng
vì sự cần thiết của nó đã đợc chứng minh một cách thuyết phục qua kinh nghiệm của
các ngân hàng trung ơng đang hoạt động. Trớc chiến tranh thế giới thứ 2, phần lớn
các ngân hàng phát hành là ngân hàng t nhân hoặc cổ phần, vai trò kiểm soát, điều
tiết các hoạt động kinh tế của Nhà nớc thông qua ngân hàng là hết sức hạn chế. Vì
thế sau chiến tranh thế giới thứ hai, phần lớn các ngân hàng trung ơng đợc quốc hữu
hoá trở thành ngân hàng của Nhà nớc. Đây là thời kỳ bắt đầu hoạt động của các ngân
hàng trung ơng hiện đại với các chức năng: độc quyền phát hành tiền; là ngân hàng
của các ngân hàng; là ngân hàng của Chính phủ và thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô:
thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.
ở giai đoạn này, hệ thống các ngân hàng trung gian cũng phát triển thêm nhiều
nghiệp vụ hiện đại: bảo lãnh và uỷ thác, đồng thời có nhiều loại hình mới ra đời.
Trớc đây, các ngân hàng chỉ có tên gọi chung là ngân hàng thơng mại sau này mới
gọi là các trung gian tài chính. Trớc năm 1960, các ngân hàng thơng mại đều có
những hoạt động giống nhau nhng trong đó có một số ngân hàng thì Nhà nớc quy
định không đợc phép huy động tiền gửi không kỳ hạn. Sau năm 1960, tất cả các ngân
hàng đều đợc phép huy động tiền gửi không kỳ hạn. Do đó, ranh giới giữa các loại
ngân hàng trở nên rất mỏng manh, khó phân định.
II. Khái niệm ngân hàng thơng mại.
1. Khái niệm
* ở một số nớc trên thế giới
- Mỹ: ngân hàng thơng mại là công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
- Pháp: ngân hàng thơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thờng xuyên
nhận của công chúng dới hình thức ký thác hay những hình thức khác các số tiền mà
họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
- ấn Độ: ngân hàng thơng mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay
tài trợ và đầu t.
7
- Thổ Nhĩ Kỹ: ngân hàng thơng mại là hội trách nhiệm hữu hạn đợc thiết lập
nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối
phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mợn hay tín dụng khác.
* ở Việt Nam: Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-90 của Hội đồng Nhà nớc Việt
Nam xác định: "Ngân hàng thơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán".
2. Đặc điểm.
Mặc dù ở mỗi quốc gia lại có những định nghĩa khác nhau nhng tựu chung lại
thì ngân hàng thơng mại có những đặc điểm sau:
- Ngân hàng thơng mại đợc phép nhận tất cả các loại tiền gửi khác nhau: tiền
gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, trái phiếu,
- Ngân hàng thơng mại đợc phép cung cấp các dịch vụ thanh toán (qua ngân
hàng) do đợc nhận tiền gửi không kỳ hạn.
- Tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích thơng mại và công nghiệp của ngân hàng th-
ơng mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có của nó.
- Tổng tài sản có của ngân hàng thơng mại luôn là khối lợng lớn nhất trong toàn
bộ hệ thống ngân hàng. Đó là lý do tại sao ngời ta vẫn tách ngân hàng thơng mại ra
thành một nhóm riêng trong khi ranh giới phân biệt nó với các tổ chức tiết kiệm khác
ngày càng bị xoá nhoà.
- Do quy mô hoạt động lớn nên ngân hàng thơng mại là đối tợng hàng đầu cần
kiểm soát của ngân hàng trung ơng. Mục đích là để ổn định tiền tệ và tránh sự phá
sản theo hệ thống của các ngân hàng.
III. Chức năng của ngân hàng thơng mại.
Ngân hàng thơng mại có 3 chức năng chính:
1. Chức năng trung gian tín dụng.
Xuất phát từ những cơ sở khách quan mà ngân hàng thơng mại cũng nh các
ngân hàng trung gian khác thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Đó là đặc điểm
tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tuần hoàn vốn xã hội đã phát sinh hiện tợng
trong cùng một lúc có những xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân có vốn tiền tệ tạm
thời cha sử dụng (nh tiền bán hàng cha mua nguyên vật liệu mới, tiền trích khấu hao
8
cha sử dụng, tiền lơng cha đến kỳ trả, ). Ngợc lại, có những doanh nghiệp, cá nhân
có nhu cầu vốn cần bổ sung trong một thời gian ngắn (nh doanh nghiệp cần mua
nguyên vật liệu nhng cha bán đợc sản phẩm, cá nhân cần tiền cho nhu cầu mua sắm
tài sản có giá trị nhng tiền tích luỹ còn hạn chế, ). Mâu thuẫn này cần đợc giải quyết
để tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế và đợc thỏa mãn bằng quan hệ tín
dụng trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngoài ra, do đặc thù yêu cầu của tiết kiệm và đầu t: ng-
ời tiết kiệm không muốn rủi ro nhng lại muốn có thu nhập cao còn ngời đầu t lại
muốn có nguồn vốn cao và chi phí vay vốn thấp, cho nên cần phải có vai trò của ngời
trung gian để đáp ứng yêu cầu của cả 2 bên, đồng thời cũng do hạn chế trong việc
phân phối vốn một cách trực tiếp. Vì vậy ngân hàng cần đứng ra làm trung gian để
chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu tạm thời.
Sở dĩ ngân hàng làm đợc chức năng này vì nó là một cơ quan chuyên trách,
chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết đợc tình hình cung cầu
tín dụng. Đó là nơi mà khách hàng có thể tin tởng đợc trong việc gửi tiền. Thông qua
việc thu hút tiền gửi với một khối lợng lớn, ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ
giữa cung và cầu cả về khối lợng vốn cho vay và thời gian cho vay.
Nh vậy ngân hàng làm chức năng tín dụng khi nó là cầu nối giữa ngời có vốn và
ngời cần vốn. Chức năng này đợc thực hiện bằng cách huy động các khoản vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay
đối với nền kinh tế, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn mà chủ yếu là
cho vay ngắn hạn. Với chức năng này, ngân hàng thơng mại vừa đóng vai trò là ngời
đi vay, vừa đóng vai trò là ngời cho vay. Điều này cũng có nghĩa là ngân hàng thơng
mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là ngời gửi tiền, ngân
hàng và ngời đi vay và đảm bảo lợi ích của nền kinh tế.
Đây chính là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thơng mại vì nó phản
ánh bản chất của ngân hàng thơng mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự duy trì
và phát triển của ngân hàng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng
sau.
2. Chức năng trung gian thanh toán.
Thực chất ngân hàng thơng mại thực hiện chức năng thanh toán trên cơ sở nó
thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân
hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu chi. Đó
chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng
vào vị trí làm trung gian thanh toán. Hơn nữa, do việc thanh toán bằng tiền mặt giữa
các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế và khó khăn, đó là rủi ro cao do phải vận
9
chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn đặc biệt là đối với các khách hàng ở cách xa nhau
đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
Nội dung của chức năng trung gian thanh toán là các ngân hàng thơng mại mở
tài khoản tiền gửi cho khách hàng. Khi có yêu cầu, ngân hàng sẽ thực hiện thanh
toán cho khách hàng nh trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng
hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu do bán hàng
và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải quản lý tài
khoản cho khách hàng của họ. ở đây, ngân hàng đóng vai trò là ngời "thủ quỹ" cho
các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là ngời giữ tài khoản của khách hàng, chi
tiền cho khách hàng. Nền kinh tế thị trờng càng phát triển thì chức năng này càng đ-
ợc phát huy, việc thanh toán qua ngân hàng càng đợc mở rộng.
Tuỳ theo nhu cầu, khách hàng có thể lựa chọn cho mình những phơng thức
thanh toán phù hợp với các công cụ thanh toán thuận lợi nh: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ
nhiệm chi, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, Việc hệ thống ngân hàng thơng
mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ
nền kinh tế. Đồng thời, đối với bản thân các ngân hàng thơng mại, chức năng này
góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán.
Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số d có
của tài khoản tiền gửi khách hàng chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức
năng tạo tiền của ngân hàng thơng mại. Nhìn vào hệ thống thanh toán của ngân hàng
thơng mại, ngời ta có thể đánh giá ngay đợc hoạt động của hệ thống ngân hàng thơng
mại có hiệu quả hay không.
Việc thu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng thơng
mại và do vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán đợc hoàn thiện thì vai trò của
ngân hàng thơng mại mới đợc nâng cao hơn với t cách là ngời thủ quỹ của xã hội.
3. Chức năng tạo tiền
Sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh
toán chính là cơ sở để ngân hàng thơng mại thực hiện chức năng tạo tiền gửi thanh
toán. Sự ra đời của các ngân hàng đã tạo ra một bớc phát triển về chất trong kinh
doanh tiền tệ. Nếu nh trớc đây, các tổ chức kinh doanh tiền tệ nhận tiền gửi (tiền
vàng, bạc) rồi cho vay bằng chính những đồng tiền đó, thì kể từ khi các ngân hàng ra
đời, việc cho vay không nhất thiết phải là tiền vàng, bạc, mà họ nhận đợc từ ngời gửi.
Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, các chủ ngân hàng đã phát hiện ra giấy chứng
nhận tiền gửi - tín phiếu đợc khách hàng sử dụng để chi trả các khoản nợ. Vì vậy,
tiền giấy chuyển đổi ra vàng đợc các ngân hàng đa vào lu thông qua nghiệp vụ tín
10
dụng thay thế cho tiền bàng hoặc bạc. Đây là phát minh có giá trị nhất trong lịch sử
hoạt động của việc kinh doanh tiền tệ.
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát
hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức
năng phát hành giấy bạc ngân hàng. Nhng với chức năng trung gian tín dụng và trung
gian thanh toán, ngân hàng thơng mại có khả năng tạo ra tiền ghi sổ thể hiện trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thơng mại. Đây chính là một
bộ phận của lợng tiền giao dịch.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động
đợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đợc khách hàng sử dụng để mua hàng hoá,
thanh toán dịch vụ trong khi số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
vẫn đợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đợc họ sử dụng để mua hàng hoá,
thanh toán dịch vụ, Khi ngân hàng chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi mà cha
cho vay, ngân hàng cha hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện cho vay, ngân hàng mới bắt đầu
tạo tiền. Đó cũng cũng là một phát minh lớn trong hoạt động ngân hàng. ở đây,
chính việc cho vay đã tạo ra tiền gửi. Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua
hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng có khả năng tạo nên số tiền
gửi gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào
hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lợt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ d thừa và tỷ lệ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán. Tuy vậy,
để tạo ra tiền gửi thanh toán, ngân hàng thơng mại phải làm chức năng trung gian
thanh toán, mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng thì số tiền trên tài
khoản này mới là bộ phận của lợng tiền giao dịch.
Trớc đây, sự phân biệt giữa ngân hàng thơng mại với các ngân hàng trung gian
khác chính là chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền gửi thanh toán. Ngày nay,
hầu hết các ngân hàng trung gian đều đợc phép nhận tiền gửi không kỳ hạn, làm
trung gian thanh toán và do vậy có khả năng tạo tiền gửi thanh toán. Sự phân biệt các
loại hình ngân hàng trung gian chủ yếu dựa vào tài sản có, mục đích cho vay và đầu
t.
Với chức năng tạo tiền, hệ thống ngân hàng thơng mại đã làm tăng phơng tiện
thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả xã hội. Rõ ràng
khái niệm về "tiền", "tiền giao dịch" không chỉ là giấy bạc do ngân hàng trung ơng
của mỗi nớc phát hành ra mà bộ phận quan trọng là lợng tiền ghi sổ do các ngân
hàng thơng mại tạo ra. ở Việt Nam, tỷ lệ này ngày càng tăng. Đến năm 1998, tỷ lệ
tiền gửi thanh toán so với tiền giao dịch là 50,2%, tăng gần 3% so với năm 97
(47,7%). Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lu
11
thông tiền tệ. Một khối lợng tín dụng mà ngân hàng thơng mại cho vay ra làm tăng
khả năng tạo tiền của ngân hàng thơng mại từ đó làm tăng lợng tiền cung ứng.
Có thể nói, các chức năng của ngân hàng thơng mại có mối quan hệ chặt chẽ,
bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó, chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ
bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng
thơng mại thực hiện tốt chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền thì lại góp phần
làm tăng nguồn vốn tín dụng và mở rộng hoạt động tín dụng.
IV. Nghiệp vụ của ngân hàng thơng mại.
Các ngân hàng thơng mại có 2 nghiệp vụ chính là: nghiệp vụ thuộc tài sản nợ và
nghiệp vụ thuộc tài sản có.
1. Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ.
Tài sản nợ của ngân hàng thơng mại bao gồm các khoản mục chủ yếu là: vốn
tiền gửi, vốn đi vay và vốn của ngân hàng.
1.1. Vốn tiền gửi.
Vốn tiền gửi là bộ phận tài sản nợ chủ yếu của ngân hàng thơng mại. Nghiệp vụ
này là đặc trng cơ bản trong kinh doanh của ngân hàng. Vốn tiền gửi bao gồm:
Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc
nào. Với khoản tiền này, mục đích chính của ngời gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn
về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng. Do vậy nó thờng đợc coi
là tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản tiền gửi có thể phát hành séc (nếu các
giao dịch thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán đợc thực hiện bằng séc).
Tiền gửi không kỳ hạn đảm bảo tổng nguồn vốn cao và chi phí huy động thấp. Vì
vậy, ngân hàng thờng huy động tiền gửi không kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng đợc rút ra sau một thời hạn
nhất định (một vài tháng đến một vài năm). Mục đích của ngời gửi tiền là lấy lãi và
ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này để cho vay. Vì vậy ngân hàng
phải trả lãi cho loại tiền gửi này. Lãi cao hay thấp thờng phụ thuộc vào thời hạn gửi
tiền và các yếu tố khác trên thị trờng. Trên thực tế để nâng cao uy tín và chất lợng
dịch vụ, lôi kéo khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng đợc rút tiền trớc
hạn với những khoản phạt (nh hởng lãi thấp hơn quy định).
Ngoài tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn, trong bộ phận vốn tiền gửi
còn có tiền gửi tiết kiệm. Đó là tiền để dành của dân c đợc gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích hởng lãi. Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ.
12
Tức là ngời gửi tiền đợc ngân hàng cấp cho một cuốn sổ dùng để ghi tiền gửi vào và
tiền rút ra. Loại hình này vẫn tồn tại cho đến nay và trong những năm 90, nó có thể
chuyển sang tài khoản séc dễ dàng. Do vậy nó có khả năng thanh toán rất cao.
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền tiết kiệm đợc gọi là tiền phi giao dịch. Chúng có đặc
tính chung là đợc hởng lãi và chủ những tài khoản này không đợc phát hành séc.
Mức lãi suất của chúng thờng cao hơn tiền gửi tài khoản séc bởi vì những ngời gửi
tiền đó không đợc hởng nhiều dịch vụ nh đối với tài khoản séc.
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn của
ngân hàng thơng mại, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. Nó phản ánh
bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay. Chính vì vậy, ngời ta gọi ngân hàng th-
ơng mại là ngân hàng kí thác hay ngân hàng tiền gửi.
1.2. Vốn đi vay.
Vốn đi vay của ngân hàng thơng mại có thể đợc lấy từ ngân hàng trung ơng hay
các ngân hàng và trung gian tài chính khác.
Bất kỳ ngân hàng thơng mại nào khi đợc ngân hàng trung ơng cho phép thành
lập hoạt động đều đợc quyền vay tiền tại ngân hàng trung ơng trong trờng hợp thiếu
hụt dự trữ hay quá thiếu tiền mặt. Hai hình thức chủ yếu, đó là: tái chiết khấu các
chứng từ có giá và cho vay thế chấp hay ứng trớc. Do vậy loại vay này đợc gọi là tiền
chiết khấu hay ứng trớc. Ngân hàng thơng mại chỉ vay của ngân hàng trung ơng sau
khi đã khai thác hết nguồn vốn trên thị trờng. Khoản vay này liên quan đến lợng tiền
trung ơng và việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ơng.
Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thơng mại có những ngày cho vay
quá nhiều dẫn đến sự thiết hụt tại ngân hàng trung ơng. Trong khi đó lại có một vài
ngân hàng khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo quy định của ngân hàng trung -
ơng, các ngân hàng thơng mại thiếu hụt dự trữ sẽ vay các khoản dự trữ ngắn hạn của
các ngân hàng khác có dự trữ d thừa. Thời hạn của loại cho vay này rất ngắn, thờng
không quá 1 tuần.
Ngoài ra các ngân hàng thơng mại cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động
từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nớc ngoài. Do loại tiền sử dụng trong thanh
toán quốc tế hiện nay là USD cho nên vay tiền ở nớc ngoài thờng vay bằng USD.
Trong thời gian qua, vốn vay đã và đang ngày càng trở thành một nguồn vốn
quan trọng hơn của các ngân hàng thơng mại.
13
1.3. Vốn của ngân hàng.
Đây là khoản mục cuối cùng trong phần tài sản nợ của bảng quyết toán tài sản
ngân hàng. Thực chất đó chính là của cải thực của ngân hàng đó. Nó bằng hiệu số
giữa tổng tài sản có với tài sản nợ. Vốn của ngân hàng hay vốn tự có bao gồm:
Vốn điều lệ (hay vốn pháp định): là vốn mà ngân hàng thơng mại phải có để đi
vào hoạt động và đợc ghi trong văn bản pháp quy. Tuỳ theo hình thức sở hữu mà
nguồn vốn này đợc hình thành từ những nguồn khác nhau. Đối với ngân hàng thơng
mại quốc doanh, đó là nguồn vốn do Nhà nớc cấp. Còn với ngân hàng cổ phần,
nguồn vốn này đợc hình thành do phát hành cổ phiếu.
Ngoài ra vốn của ngân hàng còn có các quỹ dự trữ trích từ lợi nhuận ròng hàng
năm hay phần lợi nhuận cha chia và các quỹ khác cha sử dụng.
Vốn tự có của ngân hàng thơng mại mang tính chất ổn định và thờng chiếm 1 tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng dới 10%) nhng nó lại có 1 vị
trí quan trọng, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng. Ngời ta thờng ví nó nh
một cái đệm để chống đỡ sự giảm giá trị của những tài sản có của ngân hàng mà có
thể đẩy ngân hàng đến tình trạng thiếu khả năng chi trả và phá sản. Đó cũng là cơ sở
để ngân hàng tiến hành kinh doanh và huy động vốn cho vay.
2. Nghiệp vụ thuộc tài sản có.
Nghiệp vụ thuộc tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng thơng
mại. Nghiệp vụ này mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu lãi cho vay,
lãi đầu t, giúp ngân hàng tạo ra lợi nhuận. Nó bao gồm các khoản mục chính là:
nghiệp vụ ngân hàng, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ đầu t và các loại tài sản có khác.
2.1. Nghiệp vụ ngân quỹ.
Khoản mục này bao gồm: tiền mặt tại quỹ (tiền giấy và tiền kim loại). Nhu cầu
dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, nhu
cầu rút tiền mặt của khách hàng và còn mang tính thời vụ. Tiền gửi ở ngân hàng
trung ơng gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định và tiền gửi thanh toán tại ngân
hàng trung ơng. Hai bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của ngân hàng thơng
mại. Nó không tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Thêm vào đó, nghiệp vụ ngân quỹ còn có tiền mặt trong quá trình thu là khoản
phát sinh do quan hệ thanh toán vãng lai giữa các ngân hàng, khi ngân hàng đã ghi
vào bên nợ nhng thực chất lại cha nhận đợc tiền và tiền gửi ở ngân hàng khác.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét