- Số lượng loại hình phương tiện vận chuyển gia tăng sẽ làm cho hoạt động
du lịch trở nên tiện lợi và mềm dẻo, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu của du
khách.
- Số lượng hành khách được vận chuyển tăng.
- Mạng lưới giao thông phát triển rộng khắp.
Điều đó giúp cho du khách tiếp cận với điểm du lịch một cách dễ dàng, hoạt
động du lịch trở nên tiện lợi và mềm dẻo trong việc đáp ứng nhu cầu của du khách
Về mặt chất lượng:
- Tốc độ vận chuyển tăng cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và cho phép kéo
dài thời gian ở lại nơi du lịch. Với các phương tiện có tốc độ vận chuyển cao, du
khách có thể đến được những nơi xa xôi.
- Đảm bảo an toàn trong vận chuyển sẽ thu hút được nhiều người tham gia
hoạt động du lịch.
- Đảm bảo tiện nghi trong quá trình vận chuyển, du khách sẽ thấy an tâm và
thoải mái hơn vì sức khỏe được bảo đảm.
- Giảm giá thành của chuyến đi để nhiều tầng lớp nhân dân có thể sử dụng
được phương tiện vận chuyển. Thu hút được nhiều người tham gia vào hoạt động
du lịch.
Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại
phương tiện vận chuyển. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch.
Sự phối hợp đó có 2 mức độ: mức độ quốc gia và mức độ quốc tế. Cả 2 mức độ
đều có vai trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch. Việc tổ chức vận
tải phối hợp tốt cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi tại các điểm giữa tuyến, tạo
5
điều kiện thuận lợi khi phải đổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng du khách
đi du lịch… Ví dụ: Du khách từ Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh muốn đến Đà
Lạt có thể mua vé liên vận được chuyển tiếp lên ô tô sau khi xuống tàu ở ga xe lửa
Phan Rang
1.3.Chính sách phát triển du lịch
Bất cứ một nơi nào trên thế giới dưới hình thức này hay hình thức khác đều
tồn tại một bộ máy quản lý xã hội nhất định. Có thể nói bộ máy này có vai trò
quyết định đến các hoạt động của cả cộng đồng và hoạt động du lịch cũng không
nằm ngoài quy luật chung đó. Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch
phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương
không hỗ trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển
được.
Những điều kiện chung để phát triển du lịch nếu trên tác động một cách độc
lập trên sự phát triển của du lịch. Các điều kiện ảnh hưởng đến du lịch tách rời
nhau, do vậy nếu thiếu một trong những điều kiện ấy sự phát triển của du lịch có thể
bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn bị ngừng hẳn. Sự có mặt của tất cả những điều
kiện ấy đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch.
II. CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ THÂN LÀM NẢY SINH NHU CẦU DU
LỊCH
Các nhân tố tự thân chính làm cho nhu cầu du lịch tăng trưởng là thời gian
rỗi, thu nhập, trình độ dân trí.
2.1.Thời gian rỗi
6
2.1.1. Vai trò của thời gian rỗi trong việc phát triển du lịch
-Thời gian dỗi có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch.
Công chúng chỉ bắt đầu đi du lịch khi họ được hưởng nhiều ngày nghỉ lễ và những
ngày nghỉ ăn lương.
Cụ thể: Ở Hoa Kì (1968) đã thông qua pháp luật ấn định 4 dịp lễ toàn Liên
bang hàng năm. Mỗi dịp nghỉ được định vào một ngày thứ Hai để có một kì nghỉ
cuối tuần 3 ngày. Tại Tây Ban Nha và Pháp có rất nhiều kỳ nghỉ, khoảng 12- 13 dịp
nghỉ mỗi năm. Ở nước ta từ 02/10/1999 mọi viên chức nhà nước bắt đầu được
hưởng chế độ nghỉ cuối tuần 2 ngày.
- Khi người lao động càng có nhiều thời gian rỗi, ngành du lịch càng có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Mọi người sử dụng thời gian rỗi để thư
giãn, nâng tầm hiểu biết, tăng cường sức khỏe.
- Để tăng tính hiệu quả trong việc khai thác tối đa thời gian rỗi của người
dân, du lịch có thể kết hợp với nhiều ngành khác để tạo ra nhiều loại hình du lịch
hấp dẫn: du lịch mua sắm, du lịch thăm thân… Trên cơ sở thay đổi cơ cấu giữa
thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm việc và thời gian dỗi.
Như vậy có thể khẳng định được rằng khi có thêm thời gian rỗi, mọi người
sẽ có thêm nhiều sự lựa chọn thích hợp cho mình., trong đó có du lịch là sự lựa
chọn hàng đầu. Tóm lại, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con
người tham gia vào hoạt động du lịch.
2.1.2. Những điều kiện cụ thể
7
- Tăng thời gian rỗi cho người lao động bằng cách tăng số lượng ngày nghỉ
và kéo dài kì nghỉ.
- Cần nghiên cứu đầy đủ, kĩ lưỡng cơ cấu thời gian ngoài giờ làm việc so
cho thời gian rỗi có thể chiếm đến mức tối đa; có thể bằng cách giảm thời gian mua
hàng, thời gian làm việc nhà để có thể tăng thời gian cho việc du lịch.
- Tổ chức và quản lí tốt mạng lưới phục vụ cộng đồng, giao thông, y tế…
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lấy máy móc làm công cụ sản xuất chủ
yếu nhằm tạo thêm thời gian rỗi cho người lao động.
- Hoạt động du lịch định hướng cho con người sử dụng thời gian rỗi vào các
hoạt động mang lại lợi ích nâng cao hiểu biết hoặc nâng cao thể lực, tránh việc
dùng thời gian rỗi vào các hoạt động tiêu cực. Nhờ vừa giúp phát triển ngành du
lịch vừa tránh được các tệ nạn xã hội.
2.1.3.Ví dụ
Ở nước ta hiện nay có 6 dịp nghỉ lễ trên toàn quốc là: Tết dương lịch, Tết
Nguyên Đán, Giỗ Tổ Hùng Vương, giải phóng miền Nam 30/4, ngày Quốc tế Lao
động và ngày Quốc khánh.
Như vậy người dân đã có thêm nhiều thời gian rỗi để lựa chọn đi du lịch.
Với xu hướng tăng số ngày nghỉ, người dân càng có thể đi du lịch nhiều nơi.
2.2.Khả năng tài chính của du khách tiềm năng
Nói đến các nhân tố tự thân làm cho nhu cầu du lịch tăng trưởng thì ngoài
thời gian rỗi, thu nhập của người dân cũng rất quan trọng. Ngày nay, kinh tế ngày
một phát triển, năng suất lao động ngày càng cao và mức sống của con người ngày
càng được cải thiện. Do vậy họ có khả năng thanh toán cho nhu cầu về du lịch
8
trong và ngoài nước. Có tài nguyên du lịch nhiều chưa hẳn đã phát triển du lịch
nếu nền kinh tế của của đất nước còn lạc hậu và du khách nước ấy không có khả
năng du lịch ra nước ngoài.
Khi rời nơi lưu trú thường xuyên để đi du lịch, khách du lịch luôn là người
tiêu dùng nhiều loại dịch vụ và hàng hóa. Để có thể đi du lịch và tiêu dùng du lịch,
họ phải có phương tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu
du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán, vì đi du lịch họ phải trả
thêm tiền tàu xe, trả thêm tiền nhà và xu hướng con người đi du lịch là tiêu nhiều
tiền. Khác với khi ở nhà, họ chỉ cần chi tiêu cho những khoản cần thiết: như ăn
uống, mua sắm đơn thuần… Tuy nhiên, khi đi du lịch họ thường phải chi tiêu cho
nhiều khoản nảy sinh dẫn đến mức tiêu dùng tăng vọt. Thu nhập của người dân là
chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia hoạt động du lịch.
Và khi thu nhập của người dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo, đồng
thời có sự theo đổi về cơ cấu của tiêu dùng du lịch.
Theo con số thống kê tương đối của Tập đoàn Visa khu vực Châu Á- Thái
Bình Dương về chi tiêu của khách du lịch đến Việt Nam qua thẻ Visa cho thấy,
những tháng cuối năm 2005 là 1,4 nghìn tỷ đồng (khoảng 90,6 triệu USD) đã tăng
28% so với cùng kỳ năm trước đó. Trong đó, chi tiêu nhiều nhất là các du khách
đến từ Mỹ, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và Pháp, chiếm 58% tổng lượng chi tiêu qua
thẻ. Du khách đến Việt Nam sử dụng thẻ Visa chủ yếu để chi tiêu cho chỗ ở 29%,
mua sắm 16%, đi lại 11%, ăn uống 7% và các hoạt động thể thao giải trí 4%.
Theo một số liệu của Bộ thương mại, trung bình một khách du lịch quốc tế
thuộc diện giàu có đến Việt Nam mức chi tiêu cũng chỉ khoảng 300- 700USD,
mức chi tiêu bình quân cho tất cả khách du lịch là 100 - 150 USD/người/ngày lưu
9
trú). Quá ít ỏi so với Thái Lan chi tiêu từ 1.200 USD- 1.500 USD; tại Singapore
khoảng từ 1.500 USD- 2.000 USD; ở các nước EU là 4.000- 5.000 USD.
Trong nước thì khác hẳn, điều tra của Tổng cục thống kê (GSO) cho thấy chi
tiêu của khách du lịch trong nước tăng mạnh, mức chi tiêu bình quân chung của
một lượt - khách du lịch trong nước (đối với khách tự sắp xếp đi) năm 2005. Trong
cơ cấu các khoản chi tiêu của du khách, khoản chi cho phương tiện đi lại chiếm lớn
nhất, chiếm gần một phần ba (năm 2005 là 32%) trong tổng số các khoản chi tiêu;
tiếp đến là chi cho cơ sở lưu trú để nghỉ ngời chiếm gần một phần tư (năm 2003 là
23%, 2005 là 21,8%), thứ ba là chi cho ăn uống và chi mua sắm hàng hoá, quà
tặng, quà lưu niệm, cả hai lần điều tra đều gần bằng nhau và mỗi khoản chiếm
khoảng 15%. Các khoản chi tham quan, chi cho nhu cầu văn hoá, thể thao, vui
chơi, giải trí; chi cho y tế, săm sóc sức khoẻ đều chiếm rất nhỏ trong tổng các
khoản chi. Kết quả điều tra cũng cho thấy các khoản chi về đi lại, ăn uống và dịch
vụ y tế chăm sóc sức khoẻ là những khoản chi tiêu tăng mạnh nhất; điều này cũng
phù hợp với chỉ số tăng giá của các nhóm hàng hoá và dịch vụ này trong thời gian
này.
Một điều thú vị trong việc chi tiêu của du khách sau khi điều tra đó là : Các
khoản chi tiêu của khách du lịch là phụ nữ nhiều hơn so với nam giới, chủ yếu là
tiền mua sắm hàng hoá, chi cho tham quan, cho y tế, chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp
và thuê phòng nghỉ; ngược lại, các khoản chi tiêu của du khách nam giới nhiều hơn
phụ nữ là các khoản chi ăn, uống, đi lại, vui chơi giải trí.
So sánh mức chi tiêu của du khách mỗi ngày tại mội địa phương, Hà Nội,
Lạng Sơn, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bình Thuận, Tp.HCM và Kiên Giang là những
địa phương có mức chi tiêu của du khách cao nhất. Kết quả điều tra năm 2005 bình
quân một ngày - khách từ 500 đến 638,8 nghìn đồng/khách.
10
Các địa phương có mức chi tiêu bình quân một ngày - khách từ 400 đến đến
dưới 500 nghìn đồng là Hải Phòng, Thừa Thiên-Huế, Bình Định, Lào cai, Quảng
Bình, Quảng Nam, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Cần Thơ và Cà Mau.
Các địa phương có mức chi tiêu bình quân một ngày - khách từ 300 đến dưới
400 nghìn đồng là Nghệ An, Đak Lak và An Giang; Điện Biên, Thanh Hoá, Quảng
Trị, Gia Lai, và Tây Ninh.
Thái Nguyên là địa phương có mức chi tiêu bình quân một ngày - khách thấp
nhất, chỉ 179,6 nghìn đồng.
Như vậy thu nhập của người dân là một vấn đề rất quan trọng để du khách có
một chuyến đi du lịch thật vui vẻ và có nhiều thú vị.
2.3.Trình độ dân trí
Sự phát triển của ngành du lịch cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ văn
hóa chung của nhân dân ở một nước. Cụ thể, nếu trình độ văn hóa của cộng đồng
cao thì nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt; số người đi du lịch
nhiều, lòng ham muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân
thói quen du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ. Hơn nữa trình độ văn hóa của nhân
dân nước đó cao , thì khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch
một cách văn minh và làm hài lòng khách khi đến đó.
Trình độ dân trí thể hiện bằng hành động, cách ứng xử cụ thể với môi trường
xung quanh, bằng thái độ đối với du khách của người địa phương, bằng cách cư xử
của du khách tại nơi du lịch….
Ví dụ: Ngày nay, Sầm Sơn đang dần trở thành một đô thị du lịch văn minh,
giàu đẹp, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao. Hàng năm,
có hàng vạn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến với Sầm Sơn, góp phần tạo
11
nên sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã nói riêng và tỉnh
Thanh Hóa nói chung.
Và trong những năm qua, Sầm Sơn luôn là địa điểm có sức hút mạnh mẽ đối
với khách du lịch trong và ngoài nước, song thực trạng dịch vụ du lịch trên địa bàn
còn tồn tại một số vấn đề ở các lĩnh vực: Công tác quản lý, điều hành, tổ chức kinh
doanh dịch vụ, trật tự đô thị, văn minh du lịch, vệ sinh môi trường, sự xuống cấp
của cơ sở hạ tầng Để khắc phục những tồn tại đó, yêu cầu đặt ra đối với Sầm Sơn
là phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng du lịch, dịch vụ, nâng cao
nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư trong tổ
chức hoạt động và phát triển bền vững du lịch Sầm Sơn.
Năm 2005 được xem là năm đột phá trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ
và môi trường văn hóa du lịch, hướng tới một Sầm Sơn Trật tự - Kỷ cương - Văn
minh du lịch. Với du khách, hiện tại Sầm Sơn đã có một diện mạo hoàn toàn mới-
một Thị xã du lịch biển văn minh, an toàn đối với du khách, cơ sở hạ tầng được
đầu tư nâng cấp; Môi trường du lịch được cải thiện một cách đáng kể, việc bài trừ
các tệ nạn xã hội được phát động trong toàn dân, văn hóa, văn minh được đề cao
trong hoạt động kinh doanh dịch vụ.
Theo thống kê, tỷ lệ du khách quay trở lại Việt Nam không cao. Tâm lý của
người du lịch là luôn tìm tòi và khám phá những địa điểm mới. Tuy nhiên cũng cần
nhìn nhận thực tế là người dân của chúng ta vẫn chưa có ý thức trong việc bảo vệ
cảnh quan, gìn giữ và phát triển văn hóa du lịch. Vấn đề này cần khắc phục trong
thời gian tới, hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam phải được nhân dân
Việt Nam biết đến và tôn trọng nó trước tiên. Có như vậy mới có thể quảng bá tốt
tới du khách nước ngoài; nâng cao vị thế và hình ảnh về đất nước và con người
Việt Nam.
12
III. KHẢ NĂNG CUNG ỨNG NHU CẦU DU LỊCH
Những điều kiện đặc trưng tác động lên sự phát triển của du lịch chỉ ở từng
chỗ, từng vùng hoặc từng đất nước. Những điều kiện đặc trưng quan trọng nhất là:
môi trường tự nhiên, những giá trị văn hóa và lịch sử, những thành tựu chính trị và
kinh tế…có sức thu hút khách du lịch đến địa điểm đó. Nếu như dưới góc độ kinh
tế du lịch những điều kiện chung ảnh hưởng đến cầu và cung thì những điều kiện
khu vực chủ yếu chỉ tác động đến khả năng cung ứng du lịch của địa phương.
3.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên
Tài nguyên du lịch của Việt Nam khá phong phú và đa dạng, ¾ lãnh thổ là
đồi núi và nhiều cảnh quan đẹp, những cánh rừng nhiệt đới với nhiều loại cây cỏ,
chim muông, những hệ thống sông hồ tạo nên bức tranh sơn thuỷ hữu tình, sinh
động hấp dẫn khách du lịch.
Có thể nói rằng các hợp phần tự nhiên du lịch ở nước ta khá phong phú, đa
dạng và độc đáo. Đó là điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển mạnh mẽ với
nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám
phá… tạo nên nét hấp dẫn đặc sắc cho du lịch. Do vậy chúng được trực tiếp khai
thác vào mục đích kinh doanh du lịch nên trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên.
Các hợp phần tự nhiên (địa lí) đó là địa hình, khí hậu, thuỷ văn, động thực vật…
Ngoài ra, khoảng cách từ nơi có tài nguyên đến các tài nguồn khách chính (các đô
thị, trung tâm trung chuyển khách…) cũng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển
du lịch.
3.1.1. Vị trí địa lý
13
Trong các nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên và điều kiện tự nhiên ở nước
ta hiện nay, phải nói đến điều kiện vị trí địa lí. Đây là một trong những nhân tố
quan trọng ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của du lịch.
Ta có thể dễ dàng nhận thấy khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách
du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với nước nhận khách du lịch. Nếu nước nhận
khách du lịch ở xa điểm gửi khách điều đó ảnh hưởng tới khách trên 3 khía cạnh:
- Du khách phải chi thêm tiền cho việc đi lại vì khoảng cách xa.
- Du khách phải rút ngắn thời gian lưu lại ở nơi du lịch vì mất nhiều thời
gian đi lại.
- Du khách phải hao tốn nhiều sức khoẻ cho đi lại.
Lẽ dĩ nhiên những bất lợi trên của khoảng cách thể hiện rất rõ nét đối với du
khách đi du lịch bằng phương tiện ô tô, tàu hoả và tàu thuỷ. Ngày nay, ngành vận
tải hàng không không ngừng được cải tiến và có xu hướng giảm giá, có thể sẽ khắc
phục phần nào những bất lợi trên đối với khách du lịch và đối với nước xa nguồn
khách du lịch.
Trong một số trường hợp, khoảng cách xa từ nơi đón khách tới nơi gửi
khách lại có sức hấp dẫn đối với một vài loại khách có khả năng thanh toán cao và
có tính hiếu kì vì sự tương phản, khác lạ giữa điểm du lịch và điểm nguồn khách.
3.1.2. Địa hình
Bên cạnh vị trí địa lí thì địa hình cũng là một trong những nhân tố ảnh
hưởng không nhỏ tới sự phát triển du lịch.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét