Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU 3
B. NỘI DUNG 3
I. Khái quát về chế định nguyên thủ quốc gia 3
II. Chế định chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 4
1. Vị trí, tính chất 4
2. Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước khác 4
a. Mối quan hệ với Nghị viện: 4
c. Mối quan hệ với cơ quan tư pháp 5
3. Nhiệm vụ và quyền hạn 5
b.Nhóm các nhiệm vụ và quyền hạn đối với 3 công quyền: 5
II. Chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp 1959 5
1. Vị trí, tính chất 5
2.Mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước khác: 6
3.Nhiệm vụ và quyền hạn: 6
a. Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay
mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại 6
b. Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc phối hợp các thiết chế
quyền lực Nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. 6
1.Về vị trí, tính chất 7
2. Mối quan hệ với cơ quan nhà nước khác 8
\a. Mối quan hệ của hội đồng nhà nước với quốc hội 8
b. Mối quan hệ giữa hội đồng nhà nước với chính phủ (theo Hiến pháp 1980
chính phủ là hội đồng bộ trưởng) là mối quan hệ chặt chẽ 8
c.Mối quan hệ giữa hội đồng nhân dân với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân cũng là mối quan hệ quan trọng 8
3. Về nhiệm vụ quyền hạn: 8
V, Chế định Chủ tịch nước theo HP1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi theo nghị
quyết số 51/2001/QH10 9
1.Vị trí, tính chất 9
2. Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước khác 9
Nhóm 1_KT32B1 1 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
a) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc
hội(UBTVQH) 9
b) Mối quan hệ của Chủ tịch nước với Chính Phủ: 10
c) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và Toà án nhân dân tối cao 10
d) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Viện kiểm sát nhân dân tối cao 11
4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước 11
a) Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay
mặt nước về đối nội và đối ngoại 11
b) Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc thiết lập các thiết chế
quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp 12
b2) Trong lĩnh vực hành pháp, tư pháp 12
VI, Đánh giá 13
C. LỜI KẾT 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Nhóm 1_KT32B1 2 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống bộ máy nhà nước của các nước hiện đại hầu như đều có một thiết
chế đặc biệt là nguyên thủ quốc gia và được gọi với những tên gọi khác nhau: vua, hoàng
đế, tổng thống, đoàn chủ tịch, hội đồng liên bang, hội đồng nhà nước, chủ tịch nước. Không
chỉ về tên gọi mà ở mỗi nước thì vị trí, vai trò, chức năng và tính chất khác nhau tùy thuộc
vào thể chế chính trị và cách thức tổ chức nhà nước. Ngay ở trong một nước thể chế nguyên
thủ quốc gia cũng có những thay đổi theo từng thời kỳ nhất định. Ở nước ta, nguyên thủ
quốc gia tồn tại dưới hình thức Chủ tịch nước và đã được quy định khác nhau qua các bản
Hiến pháp 1946, 1959,1980, 1992.
Vì vậy, với mục đính muốn tìm hiểu rõ vị trí, tính chất pháp lý, chức năng thẩm
quyền của nguyên thủ quốc gia tại Việt Nam qua mỗi thời kì, nhóm chúng em chọn lựa đề
tài: “ Chế định nguyên thủ quốc gia qua các bản Hiến pháp Việt Nam”. Đây là một đề tài
khá rộng khi phải tìm hiểu chế định này trong suốt lịch sử lập hiến của nước ta, nên chúng
em chỉ có thể tìm hiểu chế định này dưới góc độ tổng quát nhất. Rất mong sẽ nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để chúng em hoàn chỉnh tốt đề tài này.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát về chế định nguyên thủ quốc gia
Nguyên thủ quốc gia được Hiến pháp quy định là người đứng đầu nhà nước, có
quyền thay mặt nhà nước về mặt đối nội và đối ngoại; về nguyên tắc là đại diện tượng trưng
cho sự bền vững và tập trung của Nhà nước.
Khi cách mạng tư sản diễn ra và dành thắng lợi, giai cấp tư sản chiến thắng giai cấp
phong kiến và lập ra bộ máy cai trị mới. Trong bộ máy đó có sự xuất hiện của một thể chế
mới, đó là thể chế nguyên thủ quốc gia. Như vậy, về cơ bản thiết chế nguyên thủ quốc gia
của các nước trên thế giới hiện nay đều được xây dựng dựa trên thiết chế của nhà nước tư
sản . Nhìn chung sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản với nhiều vẻ khác
nhau song cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tổ chức quyền lực nhà nước. Đặc biệt
là vai trò biểu tượng cho dân tộc, liên kết phối hợp các nhánh quyền lực thể hiện quan điểm
thỏa hiệp giai cấp tại các nước tư bản.
Đến nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước được tổ chức theo chế độ tập
quyền, thì về nguyên tắc thiết chế nguyên thủ quốc gia riêng là không cần thiết, nếu không
muốn nói là không dung hợp. Tại một số nước XHCN khác do truyền thống lịch sử của
mình, còn lưu giữ thiết chế chủ tịch nước, thì chủ tịch nước tuy được coi là nguyên thủ quốc
gia đứng đầu nhà nước, song phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cùng cơ
quan này thực hiện các chức năng nguyên thủ. Sự hiện diện các biểu hiện “nguyên thủ quốc
gia” trong cơ chế nhà nước XHCN phần nhiều là do thông lệ quốc tế - để thuận lợi trong
việc thực hiện một số hoạt động nhà nước có tính chất long trọng, hình thức và chừng mực
nhất định, để phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ chế nhà nước. Vị trí thứ hai này
của “nguyên thủ quốc gia” xã hội chủ nghĩa khá khác nhau, tùy thuộc vào từng nước.
Nhóm 1_KT32B1 3 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
Trong cơ chế nhà nước ta như đã nói ở trên, thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ
chức khác nhau qua các bản Hiến pháp. Ở Hiến pháp năm 1946 và 1959 là Chủ tịch nước.
Đến Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng nhà nước, và hiện nay, tại Hiến pháp năm 1992 trở lại
hình thức Chủ tịch nước. Vị trí, tính chất, chức năng quyền hạn và mối quan hệ của thiết chế
này đối với các cơ quan khác cũng khác nhau theo từng giai đoạn phát triển của tổ chức nhà
nước. Trong từng hiến pháp có sự kế thừa và phát triển những nguyên tắc căn bản của tổ
chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói
riêng.
II. Chế định chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946
Sau cách mạng tháng 8, nhà nước cộng hòa dân chủ Việt Nam ra đời là nhà nước dân
chủ nhân dân. Với bản Hiến pháp 1946, bộ máy nhà nước đã bước đầu được tổ chức theo
nguyên tắc tập quyền song vẫn còn mang nhiều cách tổ chức theo kiểu đại nghị, thể hiện ở
Nghị viện nhân dân và chính phủ liên hiệp với sự đoàn kết rộng rãi ở các lực lượng, giai
cấp, đảng phái.
Sự ra đời của chế định Chủ tịch nước trong hiến pháp 1946 có thể nói bắt đầu từ chủ
trương thành lập một chính phủ nhân dân cách mạng theo tinh thần đoàn kết rộng rãi tất cả
các tầng lớp nhân dân.
1. Vị trí, tính chất.
Theo hiến pháp 1946 Chủ tịch nước có vị trí không những là người đứng đầu nhà nước
mà còn là người lãnh đạo bộ máy hành pháp (Chính phủ). Với vị trí này thì tính chất của
Chủ tịch nước được thể hiện giống như ở các nước dân chủ: là có sự phân công phối hợp
giữa Nghị viện, Ban thường vụ và Chủ tịch nước. Chủ tịch nước chủ tọa và qui định những
vấn đề quan trọng đồng thời còn chủ tọa Hội đồng chính phủ và cùng với Chính phủ ban
hành sắc lệnh quy định các chính sách thi hành các đạo luật, quyết nghị của Nghị viện.
2. Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước khác.
a. Mối quan hệ với Nghị viện:
Chủ tịch nước có những quyền hạn lớn đối với Nghị viện như: yêu cầu Nghị viện
thảo luận lại những luật mà Chủ tịch nước không đồng ý (Điều 31); Chủ tịch nước không
phải chịu một trách nhiệm nào trừ khi phạm bội Tổ quốc (Điều 50).
Tuy vậy Nghị viện cũng có khả năng hạn chế quyền của Chủ tịch nước, để đảm bảo cho
Nghị viện là cơ quan có quyền cao nhất: Chủ tịch nước được Nghị viện chọn trong số các
nghị viên và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận, Chủ tịch nước có thể
được bầu lại (Điều 45); Những luật mà Chủ tịch nước yêu cầu thảo luận lại nếu vẫn được
Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố (Điều 31); Chủ tịch nước sẽ bị
một tòa án đặc biệt của Nghị viện xét xử nếu phạm bội phản bội Tổ quốc (Điều 51).
b. Mối quan hệ với Chính phủ.
Chủ tịch nước là người đứng đầu Chính phủ.
Nhóm 1_KT32B1 4 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
Chủ tịch nước chọn Thủ tướng chính phủ trong Nghị viện; kí sắc lệnh bổ nhiệm Thứ
trưởng và các nhân viên cao cấp khác thuộc cơ quan chính phủ (Điều 47, 48); mỗi sắc lệnh
của Chính phủ phải có chữ kí của Chủ tịch nước, và phải có một hay nhiều Bộ trưởng thuộc
lĩnh vực đó tiếp ký (Điều 53).
c. Mối quan hệ với cơ quan tư pháp.
Hiến pháp 1946 chưa quy định rõ về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan
tư pháp mà chỉ nói rằng các viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước có thể phân chia thành 2 nhóm:
a. Nhóm các nhiệm vụ và quyền hạn đối với quốc gia: bao gồm: Thay mặt cho nhà
nước; Tổng chỉ huy quân đội và lực lượng vũ trang; Tặng thưởng huy chương và các cấp
danh dự; Ký hiệp ước với các nước; Tuyên bố đình chiến hay tuyên chiến theo quyết định
của Nghị viện
b.Nhóm các nhiệm vụ và quyền hạn đối với 3 công quyền:
_ Hành pháp: Bổ nhiệm: Thủ tướng; Các công chức cao cấp khác; Các đại sứ.
_ Lập pháp: Ban hành: Đạo luật; Là thành viên của Nghị viện; Có quyền: Triệu tập phiên
họp bất thường; Yêu cầu Nghị viện thảo luận về sự tín nhiệm của Nội các; Phủ quyết tương
đối các sự án luật.
_ Tư pháp: Có quyền: Ân xá; Công bố đại xá
II. Chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1959 chuyển Nhà nước ta sang mô hình Xã Hội Chủ Nghĩa kiểu Xô Viết.
Do áp dụng mạnh mẽ nguyên tắc tập quyền (tuy vẫn còn tồn tại một vài yếu tố dân chủ nhân
dân) nên thiết chế Chủ tịch nước được xây dựng lại phù hợp với giai đoạn phát triển mới đó.
1. Vị trí, tính chất.
Thiết chế Chủ tịch nước phát sinh từ Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cùng Quốc hội thực hiện các chức
năng nguyên thủ, điều phối các cơ quan cấp cao trong Bộ máy Nhà nước.
Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu Nhà nước và không đồng thời là
người đứng đầu Chính phủ. Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước thực hiện các chức năng
thuộc về đối nội, đối ngoại (Điều 61 Hiến pháp 1959). Sự phân định chức năng nguyên thủ
giữa Chủ tịch nước, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chuyển sang hướng mới.
Mọi quyền hạn quan trong đều thuộc về Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ tịch
nước chủ yếu thực hiện các công việc có tính đại diện cá nhân và tham gia nhất định vào các
hoạt động của Nhà nước như lập pháp, thành lập các cơ quan Nhà nước, tặng thưởng huân
Nhóm 1_KT32B1 5 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
chương, tuyên bố chiến tranh… nhưng đều dựa trên quy định của Quốc hội và Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
2.Mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước khác:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra với nhiệm kỳ theo nhiệm kì Quốc hội (4 năm).
Ngoài ra, do hoàn cảnh lúc bấy giờ: đất nước bị chia cắt, miền Nam không tham gia bầu cử
Quốc hội mà chỉ lưu nhiệm đại biểu cũ, nên để đề phòng có người xứng đáng ở cả hai miền
nhưng không phải đại biểu Quốc hội, Hiến pháp 1959 đã quy định chọn Chủ tịch nước từ
công dân Việt Nam. Tất cả những điều trên được quy định tại Điều 62 Hiến pháp 1959.
Bên cạnh đó, Chủ tịch nước vẫn còn có vai trò khá lớn đối với Hội đồng Chính phủ.
Chủ tịch nước đề nghị Thủ tướng để Quốc hội quyết định; căn cứ vào quy định của Quốc
hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà bổ nhiệm, bãi miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và
các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ (Điều 63 Hiến pháp 1959); khi thấy cần thiết
có quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ (Điều 66 Hiến pháp
1959)
3.Nhiệm vụ và quyền hạn:
a. Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay mặt Nhà nước về
đối nội, đối ngoại.
_ Tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến; cử, triệu hồi đại
diện toàn quyền ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.
_ Căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hộimà phê
chuẩn hiệp ước kí với nước ngoài.
_ Thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc; giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc
phòng.
_ Căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà tuyên
bố tình trạng chiến tranh; công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố lệnh
giới nghiêm.
_ Quyết định tặng thưởng huân chương và các danh hiệu vinh dự của Nhà nước.
_Công bố lệnh đại xá và lệnh đặc xá.
b. Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc phối hợp các thiết chế quyền lực Nhà
nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp.
_ Về lĩnh vực lập pháp, Chủ tịch nước có quyền:
+ Trình dự án luật ra trước Quốc hội và dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban Thường vụ Quốc
hội (Điều 15 và 28 Luật Tổ chức Quốc hội 1960)
+ Công bố pháp luật, pháp lệnh. Các đạo luật phải được công bố chậm nhất 15 ngày sau khi
Quốc hội đã thông qua.
Nhóm 1_KT32B1 6 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
_ Về lĩnh vực hành pháp, Chủ tịch nước tham gia thành lập Chính phủ; bổ nhiệm, bãi
miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; bổ nhiệm,
bãi miễn Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng Quốc phòng.
_ Về lĩnh vực tư pháp và giám sát, đối với các cơ quan như Tòa án Nhân dân tối cao,
hay Viện Kiểm sát tối cao, thì theo quy định của Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước hầu như
không có nhiệm vụ và quyền hạn gì.
Để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hiến pháp 1959 cũng quy
định Chủ tịch nước, khi xét thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của
Hội đồng Chính phủ (Điều 66) hoặc triệu tập và chủ tọa Hội nghị chính trị đặc biệt (Điều
67).
IV - Chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp 1980.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân
đã hoàn thành trong phạm vi cả nước. Đất nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn
cả nước cùng xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy, tổ chức và hoạt động Nhà nước
cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ và quan điểm về “quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động” mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã xác định.
Chủ tịch nước nằm trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước ở trung ương với tên
gọi là Hội đồng Nhà nước. Hiến pháp năm 1980 đã “sát nhập” hai chức năng của Ủy ban
thường vụ quốc hội với chức năng của Chủ tịch nước là cá nhân trong Hiến pháp 1959 vào
một cơ quan duy nhất là Hội đồng Nhà nước.
1.Về vị trí, tính chất.
Tại Hiến pháp 1980 chế định Chủ tịch nước được thay thế bằng chế độ Chủ tịch tập
thể dưới hình thức Hội đồng nhà nước.
Hội đồng Nhà nước là cơ quan mới, là kết cấu tổ chức mới của Nhà nước so với hiến
pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Đây là mô hình tổ chức nguyên thủ quốc gia chung của các
nhà nước xã hội chủ nghĩa mà ở đó nguyên tắc tập quyền được vận dụng triệt để. Hiến pháp
1980 dành hẳn Chương VII với 6 Điều (từ Điều 98 đến Điều 103) quy định về Hội đồng
Nhà nước.
Điều 98 Hiến pháp 1980 đã khẳng định tính chất của Hội đồng Nhà nước: “Hội đồng
nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của quốc hội và là chủ tịch tập thể
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.(…)
Hội đồng Nhà nước, thông qua Chủ tịch hội đồng thay mặt cho nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại
Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.”
Nhóm 1_KT32B1 7 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
2. Mối quan hệ với cơ quan nhà nước khác.
\a. Mối quan hệ của hội đồng nhà nước với quốc hội.
Các thành viên của hội đồng nhà nước được bầu ra trong số các đại biểu quốc hội( điều
99), nhiệm kỳ của hội đồng nhà nước theo nhiệm kỳ của quốc hội( điều 101).
Hội đồng nhà nước thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn được hiến pháp, luật và
nghị quyết của quốc hội giao cho, giám sát việc thi hành hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị
quyết của quốc hội ( điều 98)
Hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước quốc hội (điều 98).
Như vậy hội đồng nhà nước(chủ tịch nước tập thể) chỉ là cơ quan chấp hành của quốc
hội. Còn ở Hiến pháp 1946 nghị viện nhân dân ( đóng vai trò như quốc hội) cũng trọn ra chủ
tịch nước nhưng chủ tịch nước lúc bấy giờ không phải là người chấp hành cho nghị viện
nhân dân(cơ quan quyền lực nhà nước) mà là người đứng đầu cơ quan hành chính. Nhưng
chủ tịch nước có vai trò, quyền hạn rất lớn ( theo điều 50: “ chủ tịch nước không phải chịu
một tội nào, trừ khi phản bội tổ quốc”).
b. Mối quan hệ giữa hội đồng nhà nước với chính phủ (theo Hiến pháp 1980 chính phủ là
hội đồng bộ trưởng) là mối quan hệ chặt chẽ.
Hội đồng nhà nước có nhiệm vụ giám sát hội đồng bộ trưởng (khoản 7 điều 100), đình
chỉ các quyết định, nghị quyết, nghị định của hội đồng bộ trưởng trái với hiến pháp (khoản 8
điều 100). Còn hiến pháp 1946 thì chủ tịch nước là người đứng đầu chính phủ. Theo Hiến
pháp 1946 thì chủ tich nước cũng có những chức năng như giám sát hoạt động, đình chỉ….
Ngoài ra chủ tịch nước còn có vai trò thống nhất hoạt động của chính phủ.
c.Mối quan hệ giữa hội đồng nhân dân với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
cũng là mối quan hệ quan trọng
Trên cơ sở phối kết hợp các cơ quan trong cơ cấu nhà nước, hội đồng nhà nước phối hợp
chặt chẽ với tòa án và viện kiểm sát tối cao. Đồng thời có nhiệm vụ giám sát công tác của
hai cơ quan này
Hội đồng nhân dân còn có thẩm quyền cử, bãi miễn các phó chánh án, thẩm phán, hội
thẩm nhân dân của Toa án nhân dân tối cao, các phó viện trưởng ,kiểm sát viên của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Hiến pháp 1946 chưa có cơ quan viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Bắt đầu từ Hiến pháo 1959 mới xuất hiện cơ quan này.
3. Về nhiệm vụ quyền hạn:
Theo Điều 98 - Hiến pháp 1980 quy định: “Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất
hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”, nên Hội đồng Nhà nước có hai chức năng: chức năng của cơ quan thường
trực Quốc hội và chức năng của nguyên thủ quốc gia tập thể.
Nhóm 1_KT32B1 8 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
Với hai chức năng trên, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước là tương đối lớn. Có thể
nói, cơ chế quyền lực của Hội đồng Nhà nước là tổng số quyền của Ủy ban thường vụ Quốc
hội và của Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1959.
Nhóm quyền hạn của cơ quan thường trực của Quốc hội: Hội đồng Nhà nước là cơ
quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội và vì thế có những quyền hạn:
Thông qua hai nhóm quyền hạn trên của Hội đồng nhân dân, ta thấy xu hướng Hiến
pháp 1980 là đề cao quyền lực của cơ quyền quyền lực: Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao
nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Từ đó các hoạt động của Nhà nước đều được
trực tiếp thực hiện bởi cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất - Quốc hội.
Văn bản mà Hội đồng Nhà nước ban hành là pháp lệnh và nghị quyết. Nhưng phải
được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng Nhà nước biểu quyết tán thành (Điều 102).
Có thể thấy rằng Hội đồng Nhà nước là cơ quan quyết định văn bản, công bố pháp lệnh và
nghị quyết, được quyền tự quyết định văn bản ban hành.
V, Chế định Chủ tịch nước theo HP1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi theo nghị quyết
số 51/2001/QH10
1.Vị trí, tính chất
Theo Điều 101 HP1992 quy định rất rõ vị trí tính chất của Chủ tịch nước: ”Chủ tịch
nước là người đứng đầu Nhà nước. Thay mặt nước CHXHCN Việt Nam về đối nội và đối
ngoại”. Sự hiện diện của thiết chế Chủ tịch nước cá nhân góp phần tăng cường tính phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quuyền lực nhà nước
trong thời kì đổi mới.
2. Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước khác.
a) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội(UBTVQH)
• Mối quan hệ của Chủ tịch nước với Quốc hội
+ Chủ tịch nước do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm (trong số đại biểu QH)
+ Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước
+ Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội
+ Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với HP, Luật, Nghị
quyết của Quốc hội.
+ Chủ tịch nước có quyền yêu cầu UBTVQH triệu tập kì họp bất thường của Quốc
hội.
Nhóm 1_KT32B1 9 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
+ Đại biểu quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước trước Quốc hội tại kì họp,
trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH
hoặc tại kì họp sau của Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản.
• Mối quan hệ của Chủ tịch nước với UBTVQH
+ Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của UBTVQH. Quy định này nhằm
mục đích tạo điều kiện để Chủ tịch nước theo sát ý kiến của UBTVQH khi thảo luận và
quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Đồng thời cũng để Chủ tịch nước có thể
đóng góp ý kiến của mình.
+ Pháp lệnh nghị quyết của UBTVQH phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ
ngày được thông qua.Tuy nhiên Chủ tịch nước có quyền đề nghị UBTVQH xem xét lại
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH về các vấn đề được quy định tại điểm 8 và điểm 9 điều
91 HP1992 trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua.
Nếu pháp lệnh nghị quyết đó vẫn được UBTVQH biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước
vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kì họp gần nhất (theo
điểm 7 Điều 103).
Đây là một quyền hạn mới được bổ sung mà Hội đồng nhà nước theo HP1980 không
có. Quyền này khác với quyền phủ quyết của tổng thống của một số nước khác trên thế giới.
b) Mối quan hệ của Chủ tịch nước với Chính Phủ:
Quan hệ giữa Chủ tịch nước và chính phủ luôn là mối quan hệ gắn bó mật thiết
+ Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu ,bãi nhịêm,miễn nhiệm Thủ tướng.
+ Chủ tịch nước căn cứ nghị quyết củaQuốc hội hoặc UBTVQH bổ nhiệm ,miễn
nhiệm,cách chức Phó thủ tướng,Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.
+ Chính phủ mời Chủ tịch nước tham dự phiên họp của Chính phủ, trình Chủ tịch
nước quyết định vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.
+ Thủ tướng Chinhs phủ đôn đốc kiểm tra việc thực hiện những quuyết định của Chủ
tịch nước.các báo cáo công tác của Chính phủ trước Chủ tịch nước phải được Chính phủ
thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số.
Như vậy việc xác định mối quan hệ này thể hiện sự tăng cường vai trò của Chủ tịch
nước đối với bộ máy hành pháp và bảo đảm sự phối hợp gắn bó giữa Quốc hội, Chủ tịch
nước và Chính phủ.
c) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và Toà án nhân dân tối cao.
Với HP1992 Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà
án nhân dân tối cao. Các chức vụ khác từ phó Chánh án toà án nhân dân tối cao đến thẩm
phán toà án nhân dân cấp huyện, từ Chánh án toà án quân sự trung ương đến thẩm phán toà
án quân sự khu vực đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm
_ Trong thời gian Quốc hội không họp Chánh toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước UBTVQH và Chủ tịch nước.
Nhóm 1_KT32B1 10 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
_ Chánh án toà án nhân dân tối cao trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường
hợp người bị kết án tử hình xin ân giải.
d) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Viện kiểm sát nhân dân tối cao
+ Chủ tịch nước đề nghị bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
+ Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
+ Trong thời gian Quốc hội không họp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước UBTVQH và Chủ tịch nước.
+ Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được uỷ ban kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Nếu Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao không nhất trí với ý kiến đa số thành viên uỷ ban kiểm sát
thì có thể có quyền báo cáo với UBTVQH và Chủ tịch nước.
+ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ý kiến của mình về những trường hợp
người bị kết án tử hình xin ân giảm.
4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước
Điều 103, 104, 105, 106 HP1992 và khoản 19 Điều 1 của nghị quyết số
51/2001/QH10 cùng một số các điều khoản khác có liên quan ( Như Điều 135, Điều 139) đã
quy định khá rõ ràng và chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước. Có thể phân
chia các nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước thành hai nhóm:
a) Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay mặt nước về đối
nội và đối ngoại
Chủ tịch nước ở nước ta cũng như hầu hết các nguyên thủ quốc gia đều được quy định
quyền này. Đó là:
_ Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam, tiếp nhận Đại sứ đặc mệnh
toàn quyền của nước ngoài.Tiến hành đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác.Trình Quốc
hội phê chuẩn điều ước quốc tế đã trực tiếp kí.Quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước
quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định. Ở đây tuỳ từng mức độ quan trọng
của điều ước hoặc theo quy định và điều ước mà quyết định Chủ tịch nước hay Quốc hội
phê chuẩn.
_ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước
quốc tịch Việt Nam.
_ Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng
quốc phòng và an ninh.
Nhóm 1_KT32B1 11 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
_ Căn cứ vào nghị quyết của UBTVQH, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục
bộ, công bố tình trạng khẩn cấp, trong trường hợp UBTVQH không thể họp được, ban bố
tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương
_ Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân,
hàm, cấp đại sứ, những hàm, cấp Nhà nước trong các lĩnh vực khác, quyết định tặng thưởng
huân chương, huy chương, giải thưởng Nhà nước và danh hiệu vinh dự Nhà nước.
_ Công bố quyết định đại xá và ra quyết định đặc xá
b) Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc thiết lập các thiết chế quyền
lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp.
b
1
)Trong lĩnh vực lập pháp
+ Công bố Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
Theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chủ tịch nước còn
công bố nghị quyết của Quốc hội tương tự như đối với luật,công bố hoặc đề nghị xem xét
lại nghị quyết của UBTVQH tương tự như đối với pháp lệnh.Tuy nhiên chỉ công bố những
nghị quyết nhất định có tính quy phạm.
+ Đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH về các vấn đề
được quy định tại điểm 8 và điểm 9 điều 91 HP1992 trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày pháp
lệnh hoặc nghị quyết được thông qua. Nếu pháp lệnh nghị quyết đó vẫn được UBTVQH
biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội
quyết định tại kì họp gần nhất
b
2
) Trong lĩnh vực hành pháp, tư pháp
+ Đề nghị Quốc hôị bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng
Chính phủ,Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
+ Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.
Ngoài ra, Chủ tịch nước còn một số nhiệm vụ quyền hạn khác nữa như đề nghị danh
sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh trình quốc hội phê chuẩn, tham dự các
phiên họp của UBTVQH, khi cần thiết có thể tham gia các phiên họp của Chính phủ.Và Chủ
tịch nước còn ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình.
Hiến pháp 1992 cũng chỉ mới quy định rất khái quát nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ
tịch nước và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước ở cấp Trung ương.
Vấn đề đặt ra là sự nghiên cứu toàn diện, đi từng bước vững chắc, vừa làm vừa rút kinnh
nghiệm để cụ thể hoá dần dần các quy định của HP, làm cho thể chế Chủ tịch nước ngày
càng phát huy được vị trí, chức năng quan trọng của mình trong bộ máy Nhà nước và đời
sống xã hội
Nhóm 1_KT32B1 12 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
VI, Đánh giá
Chế định chủ tịch nước là một trong những chế định quan trọng trong tổ chức bộ
máy nhà nước ta. Trong các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 qua từng giai đoạn phát
triển chế định chủ tịch nước lại có nhiều sự khác nhau phù hợp với từng điều kiện của tổ
chức bộ máy nhà nước ở mỗi giai đoạn đó. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và phát triển của
tổ chức nhà nước ta là một quá trình thống nhất, nhất quán cho nên sự đổi mới, phát triển
đều dựa trên những nguyên tắc, ưu điểm của thiết chế trước đó. Đó là sự kế thừa và phát
triển của chế định chủ tịch nước qua các bản hiến pháp, trước khi làm rõ về sự kế thừa và
phát triển của chế định chủ tịch nước qua các bản hiến pháp ta có thể khái quát sự giống và
khác nhau giữa các bản hiến pháp của nước ta theo bảng sau:
TCPL Hiến pháp
1946
Hiến pháp
1959
Hiến pháp
1980
Hiến pháp
1992
Giống
nhau
• Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt cho quốc gia
tham gia vào các quan hệ đối nội, đối ngoại.
• Chủ tịch nước không bổ nhiệm thủ tướng, thủ tướng cũng không chịu
trách nhiệm trước chủ tịch nước mà chỉ chịu trách nhiệm báo cáo. Chủ
tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thủ
tướng; bổ nhiệm các phó thủ tướng, bộ trưởng, tham dự các phiên họp
của chính phủ khi cần thiết. Do đó chủ tịch nước đóng vai trò quan
trọng đối với chính phủ
Thiết
chế
Chủ tịch nước Chủ tịch nước Hội đồng nhà
nước
Chủ tịch nước
Cách
thức
thành
lập
Do nghị viện
nhân dân bầu
chọn trong nghị
viện
Do quốc hội bầu
trong công dân
Do Quốc hội bầu Do Quốc hội
bầu trong số đại
biểu Quốc hội
Vị trí Đứng đầu nhà
nước, trực tiếp
điều hành chính
phủ
Đứng đầu nhà
nước không trực
tiếp điều hành
chính phủ
Là cơ quan cao
nhất hoạt động
thường xuyên
của Quốc hội, là
chủ tịch tập thể
của nhà nước
cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt
Nam
đứng đầu nhà
nước
Nhóm 1_KT32B1 13 4/8/2013
Bài tập nhóm hiến pháp tháng 2
Nhiệm
kỳ
5 năm, không
theo nhiệm kỳ
của nghị viện
nhân dân
4 năm, theo
nhiệm kỳ của
Quốc hội
5 năm, theo
nhiệm kỳ của
Quốc hội
Quyền
hạn
Quyền hạn khá
lớn, có thực
quyền, không
phải chịu trách
nhiệm trước
Quốc hội, Có sự
gắn bó chặt chẽ
với Chính phủ
Phải chịu trách
nhiệm trước
Quốc hội,
Phải chịu trách
nhiệm trước
Quốc hội,
Phải chịu trách
nhiệm trước
Quốc hội,
Mối
quan
hệ với
các cơ
quan
khác
Có sự gắn bó
chặt chẽ với cơ
quan hành pháp
– chính phủ
Có sự gắn bó
hơn với Quốc
hội nhưng
nghiêng về chính
phủ
có sự gắn bó
chặt chẽ với
Quốc hội,
nghiêng về cơ
quan lập pháp
Là sự kết hợp,
vừa gắn bó với
Quốc hộ vừa
gắn bó với
chính phủ
Từ sự phân tích trên ta có thể đưa ra một số dánh giá nhận xét như sau:
Thứ nhất, trong hiến pháp 1946 chế định chủ tịch nước được xây dựng một cách độc
đáo, vừa đảm bảo quyền lực nhà nước thống nhất và cơ quan đại diện quyền lực nhà nước
cao nhất của nhân dân, vừa tăng cường hiệu quả hoạt động cho chính phủ, phù hợp với yêu
cầu kháng chiến kiến quốc lúc bấy giờ.
Thứ hai, trong Hiến pháp 1959 chủ tịch nước lúc này là khâu phối hợp giữa quốc hội
và chính phủ, đây chính là sự phát triển trong chế định chủ tịch nước theo hiến pháp 1959 so
với hiến pháp 1946, sự phát triển này là phù hợp với việc bộ máy nhà nước ta giai đoạn đó
đã chuyển sang chế độ Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chủ tịch nước vẫn còn nghiêng nhiều
về chính phủ, đây chính là điểm kế thừa vị trí của chủ tịch nước đối với chính phủ của Hiến
pháp trước.
Thứ ba, trong Hiến pháp 1980 chế định chủ tịch nước đã được xoá bỏ và thay vào đó
là chế định chủ tịch tập thể. Chế định hội đồng nhà nước đã giúp các quyết định đưa ra được
chắc chắn hơn, tránh ngẫu nhiên, bộ máy bớt được một số khâu và đơn giản các thủ tục làm
việc…Việc xây dựng chế định hội đồng nhà nước còn thể hiện nguyên tắc tập quyền đã
được vận dụng triệt để, điều đó thể hiện bộ máy nhà nước ta đã hoàn thành quá trình xây
dựng bộ máy nhà nước theo mô hình chủ nghĩa xã hội thuần tuý. Tuy nhiên sự thay đổi này
cũng mang lại nhiều hạn chế: các quyết định đưa ra chậm chạp, không phân định được hoạt
Nhóm 1_KT32B1 14 4/8/2013
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét