Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Lãi suất ngân hàng thương mại là một trong những công cụ điều tiết có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường

Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
Trong phạm vi đề tài này tôi xin đề cập đến sự điều hành lãi suất ở Việt
Nam trong giai đoạn từ khi NHNN thành lập cho đến nay- khi áp dụng chính
sách lãi suất thoả thuận.
Mặc dù đây không phải là một đề tài mới nhng laị là một vấn đề luôn đ-
ợc quan tâm vì cho dù chính sách lãi suất đã đợc áp dụng từ rất lâu trên thế
giới cũng nh Việt Nam song đối với mỗi nớc sự tác động của chính sách này
đối với nền kinh tế lại không giống nhau, hay ngay trong một nớc tại những
thời điểm khác nhau cần phải có những biện pháp tác động khác nhau. Hay nói
cách khác để vận dụng có hiệu quả chính sách này thì đòi hỏi phải có sự linh
hoạt, mềm dẻo, và nhất là phải phù hợp với môi trờng kinh tế vĩ mô. Chính vì
vậy, một sự nắm bắt chính xác bản chất, sự tác động của nó đối với nền kinh tế
là vô cùng quan trọng đối với những nhà quản lý và cả những nhà kinh tế.
Tuy nhiên đây là một lĩnh vực nghiên cứu có phạm vi và qui mô tơng
đối rộng vì điều kiện kiến thức và thời gian hạn hẹp nên trong phạm vi khoá
luận chỉ xin đề cập một khía cạnh . Đó là:
Lãi suất ngân hàng thơng maị là một trong những công cụ điều tiết có
hiệu quả trong nền kinh tế thị trờng.
Trong đề tài gồm ba chơng nh sau:
Chơng một: Chính sách tiền tệ và lãi suất tín dụng.
Chơng hai: Thực trạng chính sách lãi suất ở Việt Nam trong thời gian
vừa qua.
Chơng ba: Giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay.
Tôi xin chân thành cám ơn PGS.NGƯT Vũ Hữu Tửu đã có những chỉ
dẫn hết sức quý báu trong quá trình hoàn thành bản luận văn này.
Hà nội tháng 4 /2003
Sinh viên
Nhâm Thị Hà
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
5
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
CHƯƠNg I: chính sách tiền tệ và lãI
suất
Tín dụng.
I. Chính sách tiền tệ.
1. Khái niệm.
Hoạt động của ngân hàng liên quan đến sự ổn định hay thay đổi của tiền
tệ về lu lợng, chi phí và giá trị, vì những thay đổi nói trên tác động đến giá cả
hàng hoá và giá trị tài sản, thu nhập của nhân dân. Cho nên nó trực tiếp làm
biến chuyển mức sống của họ giữa hai cực: khó khăn, đắt đỏ và thuận lợi tiện
nghi. Do đó bằng cách tạo ra những biến động về tiền tệ, ngời ta hoàn toàn có
thể hớng dẫn những biến động nhất định trong đời sống và sinh hoạt kinh tế
của một cộng đồng. Mối quan hệ ấy đã làm cho tiền tệ biến động đợc gọi là
chính sách tiền tệ. Hoặc chúng ta cũng có thể hiểu: chính sách tiền tệ là tổng
hoà các phơng thức mà ngân hàng TƯ thông qua các công cụ của mình tác
động đến khối lợng tiền trong lu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế xã hội của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
Nói đến chính sách tiền tệ không thể không đề cập đến tiền tệ.
Tiền tệ luôn có hai chức năng cơ bản: đó là chức năng làm trung gian
trao đổi, thanh toán và chức năng dự trữ giá trị trong đời sống và hoạt động
kinh tế. Một điều hiển nhiên là khi có một lợng tiền càng lớn thì những hoạt
động trên diễn ra càng thuận lợi vì khi đó chi phí để có tiền sẽ trở nên thấp hơn
và do đó giá trị của tiền cũng giảm theo. Và cơ bản là khi đó cơ hội để có tiền
trở nên dễ dàng hơn. Ngời ta sẽ chi tiêu nhiều hơn. Nhu cầu về hàng hoá tăng,
sẽ tác động đến giá cả và sản xuất phát triển nhanh hơn.
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
6
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
Và trong trờng hợp ngợc lại, khi tiền tệ trở nên khan hiếm lúc này chi
phí để có tiền sẽ tăng vì con ngời cần đánh đổi nhiều cồng sức và thì giờ hơn
trớc để có tiền Và hệ quả tất yếu là năng lực sản xuất giảm theo.
Có thể nói mọi sự thay đổi nói trên đều do hệ thống của bàn tay tạo ra
nó: chính sách tiền tệ.
Trong trờng hợp thứ nhất: sự d thừa của tiền kích thích tiêu dùng và sản
xuất và, đó chính là chính sách tiền tệ nới lỏng (Easy_Moneytary Policy)
Trờng hợp thứ hai: là chính sách tiền tệ thắt chặt, ngợc lại với chính
sách tiền tệ nới lỏng: lúc này tiền trở nên khan hiếm, thiếu hụt về số lợng, đất
đỏ về chi phí.
Chính sách tiền tệ có thể đợc thực thi theo hai hớng cho phù hợp với
tình hình thực tiễn của mỗi một nền kinh tế khác nhau. Nó chỉ có thể đi theo
hai hớng này hoặc nới lỏng hoặc thắt chặt. Và sự dao động trong hai khuynh h-
ớng này sẽ tác động tới đời sống của nhân dân và hoạt động kinh tế của họ.
Và những tác động đó sẽ là xấu hay tốt phụ thuộc vào tính hợp lý hay
không hợp lý của chính sách tiền tệ đó với nền kinh tế.
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ hầu nh thống nhất ở các nớc. Sự điều
chỉnh về tiền tệ nhằm mục tiêu trớc hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó
góp phần tăng trởng kinh tế và giải quyết công ăn việc làm.
-ổ n định giá cả tiền tệ : là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ và là
mục tiêu dài hạn. Ôn định giá trị tiền tệ là ổn định sức mua của tiền tệ và ổn
định giá cả, trong đó ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hớng
phát triển kinh tế của quốc gia. Giá cả có mức lạm phát thấp và ổn định sẽ làm
cho mức tăng thu nhập thực tế của ngời dân (+) , thúc đẩy nhu cầu đầu t, đảm
bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả, cải thiện đời sống của ng-
ời dân. Ngựơc lại sự bất ổn định giá cả(khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
7
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
phát cao hay thiểu phát liên tục) sẽ làm cho môi trờng kinh tế vĩ mô của quốc
gia biến động phức tạp và khó dự đoán chính xác, nạn đầu cơ sẽ làm nới rộng
khoảng cách giàu nghèo, khiến nhân dân mất niềm tin ở chính quyền. Việc
công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của Ngân hàng TƯ nhằm ổn định
giá trị tiền tệ về mặt dài hạn. Điều này có nghĩa là NHTƯ không tập trung điều
chỉnh sự biến động giá cả trong ngắn hạn. Do những biện pháp về chính sách
tiền tệ tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có
thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vao thời điểm nào trong tơng lai, vì
vậy sẽ là không khả thi đối với NHTƯ trong việc theo đuổi kiểm soát giá cả
trong ngắn hạn.
Nh vậy ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn của
chính sách tiền tệ.
-Tăng tr ởng kinh tế : tốc độ tăng trởng kinh tế ổn định là nền tảng cho
mọi sự ổn định. Nó đảm bảo giải quyết cho các mục tiêu kinh tế khác của
chính sách tiền tệ nh: giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn định tiền tệ trong nớc, gia tăng
thu nhập quốc dân
Vì thế chính sách tiền tệ phải phục vụ cho việc đảm bảo rằng sẽ có tăng
trởng kinh tế thực sự, nghĩa là phần tăng trởng có đợc sau khi lấy phần tăng
danh nghĩa trừ đi phần gia tăng trong cùng thời kì. Sự tăng trởng phải đợc hiểu
cả về khối lợng và chất lợng, biểu hiện ở sự tăng GDP thực tế, cơ cấu kinh tế
hợp lý và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nớc tăng. Một nền
kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trởng kinh tế ổn định là mục tiêu của bất kì
chính sách kinh tế vĩ mô nào.
-Công ăn việc làm đầy đủ: chính sách tiền tệ phải quan tâm đến khả
năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã hội của thất nghiệp . Công ăn việc
làm đầy đủ có ý nghĩa bởi 3 lý do:
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
8
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
+Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh
sự thịnh vợng của xã hội vì nó phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn
lực xã hội.
+Thất nghiệp gây nên tình trạng stress cho mỗi cá nhân và gia đình của
họ và là mầm mống của các tệ nạn xã hội.
+Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đối cơ cấu chi
tiêu ngân sách và làm căng thẳng tình trạng ngân sách.
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp
bằng không. Mỗi một quốc gia cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên chính
xác để đạt mục tiêu này. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên đợc cấu thành từ tỷ lệ thất
nghiệp tạm thời (những ngời đang tìm kiếm việc làm thích hợp) và tỷ lệ thất
nghiệp cơ cấu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp nhu cầu về lao động và cung
của lao động). Bên cạnh đó cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng đợc
coi là mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nớc còn tập trung vào các mục
tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ. Chẳng
hạn, Cục dự trữ liên bang Mỹ theo đuổi các mục tiêu khác nh ổn định thị trờng
tài chính, ổn định lãi suất hoặc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam nhằm mục tiêu
ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng thay vì đảm bảo công ăn việc làm.
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với
nhau. Trong khi mục tiêu tăng trởng kinh tế vững chắc có quan hệ chặt chẽ với
mục tiêu việc làm đầy đủ, mục tiêu tăng trởng kinh tế và ổn định giá cả bổ
sung cho nhau trong dài hạn, thì trong ngắn hạn mục tiêu ổn đinh giá cả lại
mâu thuẫn với mục tiêu việc làm cao và mục tiêu tăng trởng kinh tế. Mâu
thuẫn giữa các mục tiêu đặt các quốc gia vào việc phải lựa chọn một mục tiêu
thích hợp cho từng thời kì, chấp nhận cắt giảm nhất định đối với những mục
tiêu khác, đồng thời sử dụng và điều chỉnh các công cụ của chính sách tiền tệ
nhằm đạt đựơc các chỉ tiêu trung gian: tổng khối lợng tiền cung
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
9
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
ứng(M1,M2,M3), hoặc mức lãi sất thị trờng(ngắn và dài hạn), chỉ tiêu hoạt
động(tổng dự trữ của ngân hàng thơng mại, lãi suất ngắn hạn của thị trờng liên
ngân hàng
3.Công cụ của chính sách tiền tệ.
Để thực hiện chính sách tiền tệ, NHTƯ sử dụng các loại công cụ khác
nhau nh công cụ tái cấp vốn, lãi sất tín dụng, dự trữ bắt buộc Mỗi loại có cơ
chế tác động riêng và đem lại những kết quả khác nhau trên những khía cạnh
khác nhau. Tuy nhiên các công cụ này đều nhằm ảnh hởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến khối lợng tiền trong lu thông để từ đó đạt đợc các mục tiêu của chính
sách tiền tệ.
3.1.Công cụ trực tiếp
Công cụ trực tiếp là công cụ tác động trực tiếp vào khối lợng tiền trong
lu thông. Khi NHTƯ sử dụng công cụ trực tiếp, nó tác động vào mục tiêu
trung gian qua đó tác động đến tổng cầu.
a.Hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng là d nợ tối đa mà NHTƯ buộc các tổ chức tín dụng
phaỉ tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.Nghĩa là, về thực chất, công cụ
này cho phép NHTƯ ấn định trớc khối lợng tín dụng phải cung cấp cho nền
kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm đờng để đa nó vào nền kinh
tế. Khi NHTƯ xác định hạn mức tín dụng thì căn cứ vào các chỉ tiêu nh tốc độ
tăng trởng kinh tế, biến động của chỉ số giá cả, biến động của tỷ giá. Tỷ lệ thất
nghiệp trong nền kinh tế, bội chi ngân sách. Hạn mức tín dụng sẽ đặc biệt phát
huy tác dụng trong nền kinh tế có lạm phát. Trong trờng hợp các công cụ gián
tiếp không phát huy có hiệu quả do thị trờng tiền tệ cha phát triển hoặc do mức
cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động lãi suất, hoặc do NHTƯ không
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
10
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
có khả năng khống chế và kiểm soát lợng vốn khả dụng của hệ thống ngân
hàng thơng mại thì công cụ hạn mức tín dụng là không thể thiếu trong việc
điều tiết lợng tiền cung ứng.
Khi sử dụng hạn mức tín dụng nhằm khống chế d nợ tín dụng của các
ngân hàng thơng mại thì tơng đơng với nó là một lợng nguồn vốn tiền gửi huy
động, qua đó ảnh hởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lợng cung ứng. Khi
NHTƯ tăng hạn mức tín dụng sẽ dẫn tới khả năng tăng cung ứng vốn tín dụng
của các tổ chức tín dụng cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo tiền qua hệ thống
ngân hàng, do đó sẽ làm tăng lợng tiền cung ứng. Còn ngợc lại giảm hạn mức
tín dụng sẽ làm giảm lợng tiền cung ứng.
Tuy nhiên đây là công cụ có tính chất hành chính và thiếu linh hoạt, đôi
khi đi ngợc lại với chiều hớng biến động của thị trờng tín dụng nên hiệu quả
điều tiết của nó cha cao vì nó có thể đẩy lãi suất lên cao hoặc giảm khả năng
cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại
b.Lãi suất tiền gửi và cho vay.
Ngân hàng thơng mại có thể sử dụng công cụ lãi suất, nh khung lãi suất,
lãi suất trần, sàn lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trờng nhng thông qua cơ
chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ. Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hút đợc nhiều
tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay. Ngợc lại, sẽ làm giảm khả năng mở rộng
kinh doanh tín dụng. Khi muốn tăng khối lợng cho vay, NHTƯ giảm mức lãi
suất cho vay để kích thích các nhà đầu t vay vốn, khi cần hạn chế đầu t, NHTƯ
sẽ ấn định mức lãi suất cao.
Tuy nhiên công cụ này làm hạn chế tính chủ động, linh hoạt trong kinh
doanh của ngân hàng thơng mại. Nó sẽ dẫn đến tình trạng ứ động vốn ở ngân
hàng nhng nền kinh tế lại thiếu vốn đầu t.
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
11
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
3.2. Công cụ gián tiếp.
a,Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là khoản tiền gửi của các ngân hàng thơng mại tại
NHTƯ, mức tiền gửi này do pháp luật qui định bằng một tỷ lệ nhất định so với
các khoản nợ của ngân hàng.
Dự trữ bắt buộc là một trong những nhân tố ảnh hởng đến lợng vốn khả
dụng của ngân hàng: nó có thể điều chỉnh việc tạo tiền thông qua hệ thống
ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng thơng mại. Và nó
chính là một phơng tiện cho NHTƯ sử dụng để kiểm soát khối lợng tín dụng
và làm thay đổi lợng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Những thay đổi trong dự
trữ bắt buộc tác động đến cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi hệ số mở rộng
tiền tệ(m).
Ưu điểm của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung ứng tiền tệ
là có thể tác động dến tất cả các ngân hàng nh nhau và có tác dụng mạnh mẽ
đến cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên, nhợc điểm của dự trữ bắt buộc là thiếu tính
mềm dẻo. Thật vậy sẽ rất vất vả để thực hiện đợc những thay đổi nhỏ trong
cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc. Ngoài ra việc tăng dự trữ
bắt buộc có thể ảnh hởng xấu đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng
thơng mại, gây ra tình trạng mất ổn định trong thanh toán và quản lý các ngân
hàng.
b,Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn.
Tái chiết khấu và tái cấp vốn là các phơng thức mà NHTƯ cho các
ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng vay thông qua hình thức chiết
khấu lại giấy tờ có giá.
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
12
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn NHTƯ có thể tác
động đến khả năng cho vay của các ngân hàng thơng mại. Và qua đó làm cho
cung cầu về tiền tệ có sự thay đổi. Khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn tăng
lên các ngân hàng thơng mại sẽ bất lợi nếu vay vốn của Ngân hàng Trung ơng.
Trong điều kiện nh vậy, các ngân hàng thơng mại sẽ không có khả năng mở
rộng cho vay tín dụng. Ngợc lại, khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn giảm,
các ngân hàng thơng mại do đợc lợi trong việc chiết khấu lại với NHTƯ nên sẽ
có điều kiện mở rộng khả năng cho vay tín dụng.
Công cụ này có u điểm là việc vay muợn đợc thực hiện trên những giấy
tờ có giá nên thời hạn vay muợn tơng đối rõ ràng, việc hoàn trả nợ tơng đối
chắc chắn, tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của qui luật cung cầu
thị trờng. Nó cũng giúp NHTƯ thực hiện vai trò ngời cho vay cuối cùng nhằm
giúp nền kinh tế tránh khỏi những cuộc sụp đổ tài chính. Bên cạnh đó, công cụ
này cũng còn tồn tại không ít nhợc điểm. Thứ nhất: trong nghiệp vụ này
NHTƯ ở vào thế bị động NHTƯ có thể thay đổi lãi suất tái chiết khấu nhng
không thể bắt các ngân hàng đi vay. Thứ hai: khi NHTƯ ấn định mức lãi suất
tái chiết khấu đặc biệt nào đó sẽ gây ra chênh lệch lớn giữa lãi suất tái chiết
chiết khấu và lãi suất thị trờng.
c,Nghiệp vụ thị tr ờng mở.
Thực chất của loại hoạt động này là việc NHTƯ mua bán các giấy tờ
cho các ngân hàng thơng mại với lãi suất hấp dẫn, NHTƯ thu hồi tiền từ lu
thông làm giảm lợng tiền cung ứng , đồng thời khả năng cho vay của các ngân
hàng thơng mại cũng giảm và giá trị tín dụng tăng lên. Ngợc lại bằng việc mua
các giấy tờ có gía, NHTƯ cung cấp tiền cho các ngân hàng thơng mại để cho
vay, làm gia tăng lợng tiền cung ứng trên thị trờng. Điều quan trọng ở đây là
thời hạn của giấy tờ có giá. Việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn chủ yếu
nhằm mục đích cân bằng giao động của tỷ lệ lãi suất trên thị trờng tiền tệ,
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
13
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trờng có
hiệu quả
trong khi đó mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn có ảnh hởng rõ rệt tới khả năng
thanh toán của các ngân hàng thơng mại.
Đây đợc coi là công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ vì nó có
những u điểm hơn hẳn so với các công cụ khác vì:
+)Thông qua nghiệp vụ này NHTƯ hoàn toàn kiểm soát đợc lợng tiền
giao dịch.
+)Đây là công cụ linh hoạt giúp NHTƯ dễ dàng sửa chữa những sai lầm
của mình nếu có sai sót xảy ra.
+)Nghiệp vụ có thể sử dụng đợc ở bất kì mức độ nào khi có yêu cầu, căn
cứ vào khối lợng giấy tờ có giá bán ra.
+)Nghiệp vụ thị trờng mở có thể tiến hành nhanh chóng, không gây
những chậm trễ về mặt hành chính và ít gây tốn kém về mặt chi phí.
Tuy nhiên khi NHTƯ mua bán chứng khoán trên thị trờng thì vẫn phải
phụ thuộc vào ngời mua và ngời bán, các ngân hàng thơng mại. Và để sử dụng
đợc nghiệp vụ này thì phải có sự phát triển khá cao của cơ chế thanh toán
không dùng tiền mặt, tiền trong lu thông phần lớn nằm trong tài khoản của các
ngân hàng.
II. Lãi suất tín dụng.
Phạm trù quan trọng nhất của ngân hàng là lãi suất. Danh từ lãi suất
chúng ta nói ở đây bao gồm các khoản chi phí của tiền tệ và tài chính trong
nền kinh tế. Chi phí của vốn sẽ quyết định lợi nhuận tạo ra từ nguồn vốn ấy ở
bất kì lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào. Trong lĩnh vực ngân hàng điều này
càng chính xác.
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét