triển và hạn chế tác hại. Những thuận lợi của xuất khẩu mang lại có thể thấy
rõ ràng, bên canh đó xuất khẩu còn nhiền hạn chế.
Canh tranh dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán hàng hoá xuất khẩu.
Nếu không có sự kiểm soát của Nhà nớc một cách kịp thời sẽ gây các thiệt
hại khi buôn bán với nớc ngoài. Các hiện tợng xấu về kinh tế xã hội nh
buôn lậu, trốn thuế, ép gia, ép cấp dễ phát triển. Cạnh tranh dẫn đến tình
trạng thôn tính lẫn nhau giữ các chủ kinh tế bằng các biện pháp không lành
mạnh nh phá hoại cản trở công việc của nhau. Do đó việc quản lý không chỉ
đơn thuần tính toán về hiệu quả kinh tế mà còn phải chú trọng đến văn hoá
và đạo đức xã hội.
Xuất khẩu là việc mua bán hàng hoá nớc ngoài nhằm phát triển sản xuất
kinh doanh và đời sống. Song mua bán ở đây có những nét riêng, phức tạp
hơn trong nớc nh giao dịch với ngời nớc ngoài, thị trờng rộng lớn khó kiểm
soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán bằng
ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các quốc gia
khác nhau. Phải tuân thêo các tập quán quốc tế cũng nh địa phơng.
Hoạt động xuất khẩu đợc tổ chức, thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều
khâu từ điều tra trị trờng nớc ngoài lựa chọn hàng hoá xuất khẩu đến hoàn
thành các thủ tục thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải đợc nghiên cứu
kỹ lỡng, đặt chúng trong mối quyan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những
lợi thế nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế, phục vụ kịp thời cho sản xuất và
tiêu dùng trong nớc.
Đối với ngời tham gia hoạt động xuất khẩu, trớc khi bớc vào nghiên cứu,
thực hiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt đợc thông tin về nhu cầu hàng
hoá, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả và xu
hớng biến động của nó. Những điều đó phải thành nếp thờng xuyên trong t
duy mỗi nhà kinh doanh xuất khẩu để nắm bắt đợc các cơ hội trong kinh
doanh thơng mại quốc tế.
* Các hình thức kinh doanh xuất khẩu trong cơ chế thị tr ờng.
- Xuất khẩu tự doanh:
Xuất khẩu tự doanh là hoạt động xuất khẩu độc lập của một doanh
nghiệp, kinh doanh xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở nghiên cứu thi trờng trong
và ngoài nớc, tính toán đầy đủ chi phí, bảo đảm kinh doanh xuất khẩu có
lãi, đúng trong phơng hớng, chính sách pháp luật quốc gia cũng nhu quốc
tế.
Trong xuất khẩu tự doanh thì doanh nghiệp phải đứng mũi chịu sào tắt
cả. Đây là hoạt động xuất khẩu đợc xem xét một cách kỹ càng từ việc
nghiên cứu thị trờng đến việc ký kết hợp đồng bởi doanh nghiệp phảI tự bỏ
vốn của mình ra, chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu, thăm viếng, giao
nhận lu kho cho tới chi phí phải giao nhận hàng hoá, chịu thuế doanh thu.
Khi xuất khẩu tự doạnh thì doanh nghiệp xuất khẩu đợc tính kim ngạch
xuất nhập khẩu và khi tiêu thụ đợc số hàng xuất khẩu thì đợc tính doanh số,
do đó phải chịu thuế doanh thu.
Đây là hình thức xuất khẩu phức tạp nhất, khó khăn nhất và tự chủ nhất
trong các hình thức. Các bộ kinh doanh phải tự nghiên cứu, thực hiện các b-
ớc xuất khẩu sao cho tận dụng đợc mọi sự biến động của thị trờng, mua đợc
rẻ nhất, bán đợc đắt nhất và thời gian ngắn nhất.
- Xuất khẩu uỷ thác:
Xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong
nớc có hàng hoá và có nhu cầu khuất khẩu một số hàng hoá nhng không có
quyền tham gia nhng không có quyền quan hệ trực tiếp, đã uỷ thác cho một
doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thơng tiến hành xuất
nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình để làm thủ tục xuất khẩu hàng
hoá thêo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một khoản thù lao gọi là phí
uỷ thác.
Trong hoạt động xuất khẩu này, doanh nghiệp xuất khẩu (nhân uỷ thác)
không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có) không phải nghiên
cứ thị trờng tiêu thà chỉ đứng ra thay mặt cho bên uỷ thác để tìm và giao
dịch với bạn hàng nớc ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu
hang hoá cũng nh thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thờng với bên nớc
ngoài khi tổn thất. Khi tiến hành xuất khẩu uỷ thác thì tại các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu chỉ đợc tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không tính
doanh số, do đó không chịu thuế doanh thu. Khi xuất khẩu uỷ thác, doanh
nghiệp phải lập hai hợp đồng, một hợp đồng mua bán hàng hoá với nớc
ngoài, một hợp đồng nội xuất khẩu uỷ thác với bên uỷ thác.
Đây là hình thức xuất khẩu đơn gian nhất, không chịu rủi ro bán hàng,
không phải bỏ vốn kinh doanh. Cán bộ kinh doanh trong phòng nghiệp vụ
chỉ việc tiến hành hoạt động giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng. Đây
là những nghiệp vụ chuyên môn nên có thể thự hiện dễ dàng mọi chi phí
bên uỷ thác phái chịu và phòng kinh doanh sẽ thu đợc % uỷ thác.
- Xuất khẩu liên doanh:
Là hoạt động xuất khẩu hàng hoá trên cơ sở liên doanh kinh tế một cách
tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp
xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp khả năng để cùng giao dịch đề ra
các chủ trơng, biện pháp liên quan hoạt động xuất khẩu, thúc đẩy hoạt động
này phát triển theo hớng có lợi nhất cho tất cả các bên., cùng chia lãi và
cùng chịu lỗ.
So với hoạt động xuất khẩu tự doanh thì các doanh nghiệp chịu ít rủi ro
hơn bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh xuất khẩu chỉ đóng góp một phần vốn
nhất định, quyền hạn và chách nhiệm mỗi bên cùng tham gia số vốn góp.
Việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ góp vốn, Lãi và lỗ hai bên
phân chia theo thoả thuận dựa trên vốn góp với phần chách nhiệm mà mỗi
bên gánh vác. Trong xuất khẩu liên doanh, doanh nghiệp đứng ra xuất hàng
sẽ đợc tính kim nghạch xuất nhập khẩu và chỉ chịu thuế doanh thu trên số
doanh thu của mình. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải lập hai hợp đồng:
một hợp đồng ngoại bán hàng với nớc ngoài, một hợp đồng liên doanh với
doanh nghiệp khác ( không nhất thiết là doanh nghiệp trong nớc)
Hình thức này phát sinh khi phòng nghiệp vụ không đủ khả năng về một
nào đó để tự mình đứng ra xuất khẩu, đồng thời có những đơn vị kinh doanh
có thể đáp ứng về khả năng ấy cũng nh cùng chung ý tởng kinh doanh, do
vậy những đơn vị đó cùng với phòng nghiệp vụ liên doanh với nhau nhằm
khắc phục khó khăn cho nhau, cùng tiến hành xuất khẩu hàng hoá. Thờng
thì do phòng kinh doanh có nhiệm vụ, có kinh nghiệm, có bạn giao dịch và
đợc quyền xuất nhập khẩu trực tiếp đứng ra tiến hành các bớc giao dịch ký
kết hợp đồng với nớc ngoài còn phía ban liên doanh thờng góp vốn và đảm
bảo hàng hoá.
- Xuất khẩu đổi hàng:
Nhập đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại chủ yếu của buôn
bán đối lu, nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu. Thanh toán
trong hợp đồng này không phải dùng tiền mà chính bằng hàng hoá. ở đây
mục đích xuất hàng không chỉ để thu lãi từ hoạt động nhập mà còn nhằm để
xuất đợc hàng.
Hoạt động này rất có lợi bởi cùng một hợp đồng có thể tiến hành cung
một lúc hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu do đó thu lãi từ hoạt động xuất
và nhập khẩu này. Hàng hoá xuất và nhập khẩu tơng đơng về giá trị, cân
bằng về giá cả, nếu có sự chênh lệch sẽ đợc thanh toán bù trừ tuỳ theo thoả
thuận giữa hai bên.Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính cả kim
ngạch xuất và kim ngạch nhập. Nhận doanh thu tiêu thụ hàng xuất và hàng
nhập nên chịu thuế doanh thu cả hàng xuất và hàng nhập.
Trong xuất khẩu đổi hàng, biên pháp đảm bảo thực hiện hợp dồng là:
*Dùng th tín (L/C) đối ứng: đây là loại L/C mà trong nội dung của nó có
điều khoản quy định L/C này có hiệu lực khi ngời hởng mở một L/C có kim
ngạch tơng đơng
*Dùng ngời thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, ngời thứ ba chỉ
giao chứng từ đó khi ngời nhận đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá
trị tơng đơng.
*Phạt về giao thiếu hay giao chậm.
b. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu là cơ sở của nhập khẩu là hoạt động kinh doanh để đem lại
lợi nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy kinh tế. Mở rộng xuất khẩu tăng ngoại
tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sơ hạ tầng. Nhà nớc ta luôn
coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu, khuyến khích
các ngành kinh tế theo hớng xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh
tế mở rộng xuất khẩu để giảI quyết công ăn việc làm tăng thu ngoại tệ.
. Xuất khẩu tạo nguồn hàng chủ yếu cho nhập khẩu:
Công nghiệp hoá đất nớc đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy
móc thiết bị, kỹ thuật, vật t và công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu
có thể đợc hình thành từ các nguồn sau:
- liên doanh đầu t với nớc ngoài
- Vay nợ, viện trợ, tài trợ.
- Thu từ hoạt động du lịch.
- Xuất khẩu sức lao động.
Các nguồn vốn từ đầu t nớc ngoài, vay nợ, viện trợ chung ta đều phải
trả bằng các hình thức khác. Để nhập khẩu nguồn vốn quan trong nhất là từ
nhập khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô tốc độ của nhập khẩu. Thời kỳ
1986 đến 1990 nguồn thu của nớc ta từ xuất khẩu chiếm 3/3 tổng nguồng
thu ngoại tệ, năm 1994 xuất khẩu đã đảm bảo đợc 80% nhập khẩu so với
24,6% năm 1994. Với xu hớng này, các năm sau kim ngạch đều tăng lên so
với năm trớc đó.
Xuất khẩu góp phần dich chuyển lại cơ cấu kinh tế h ớng ngoại
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thành
quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghẹ hiện đại. Sự tác động của
xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dich cơ cấu kinh tế có thể đợc nhìn
nhận theo các hớng sau:
- Xuất khẩu sản phẩm của nớc ta cho nớc ngoài
- Xuất phát từ nhu cầu của thị trờng thế giới để tổ chức sản xuất
những sản phẩm nớc khác cần. Điều đó có tác dụng đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát
triển thuận lợi.Ví dụ, khi phát triển hàng mỹ nghệ xuất khẩu sẽ tạo cơ hội
cho phát triển các ngành trồng trọt cây cối, cây đay, ngành nhuộm Sự
phát triển của các ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu kéo thực sự phát
triển của ngành công nghiệp chế rạo thiết bị.
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ, cung cấp đầu
vào cho sản xuất, khai thác tối đa cho sản xuất trong nớc.
- Xuất khẩu tạo ra những điều kiện kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới th-
ờng xuyên năng lực sản xuất trong nớc. Nói cách khác xuất khẩu với cơ sở
tăng thêm vốn và kỹ thuật công nghệ tiên tiến từ các quốc gia bên ngoài vào
Việt Nam nhằm hiện đại hoá nớc ta.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia cuộc cạnh
tranh trên thị trờng quốc tế về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi
hỏi phải tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với thị trờng quốc tế.
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá
thành.
. Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân
dân:
Trớc hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra
nhuồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu thụ thiết yếu phục vụ đời sống nhân
dân. Sản xuất hàng hoá xuất khẩu là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, chính
vì vậy có thể mang lại mức lơng cao cho những lao động hoạt động trong
lĩnh vực này, nâng cao mức sống cho ngời lao động.
. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của n ớc ta:
- Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt xuất khẩu ra
đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên nó thúc đẩy các quan hệ
khác phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng hoá xuất khẩu thúc
đẩy quan hệ tín dụng đầy t, vận tải quốc tế ng ợc lại, chính các quan hệ
kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất .
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để
phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
II. Các nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh xuất khẩu:
1, Nghiên cứu thị tr òng, ký kết hợp đồng xuất khẩu:
Nghiên cứu thị trờng trong kinh doanh quốc tế là một loạt các thủ tục
và kỹ thuật đợc đa ra để giúp các nhà kinh doanh có đầy đủ các thông tin
cần thiết, từ đó đa ra các quyết định chính xác. Nghiên cứu thị trờng là một
quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng với sự phân tích những
thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề Marketing. Bởi vậy nghiên thị trờng
đang đóng một vai trò để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong
công tác kinh doanh và các nhà Marketing nắm bắt kịp thời, đúng các nhu
cầu.
Nghiên cứu thị trờng thực chất là phơng pháp đã đợc tiêu chuẩn hoá có
hệ thống và tỷ mỷ với mục đích tìm ra những điều cần thiết, thích hợp để
tìm thị trờng cho các hàng hoá, dịch vụ nào đó, trong một khoảng thời gian
và nguồn lực hạn chế .
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá để các nhà Marketing biết đợc quy luật
vận động của nó. Mỗi thị trờng hàng hoá có quy luật vận động riêng, những
quy luật này thể hiện qua việc biến đổi về nhu cầu, sự cung cấp và giá cả
trên thị trờng đó. Nắm vững các quy luật về thị trờng hàng hoá giúp các nhà
quản trị lập chiến lợc Marketing xuất khẩu chung cho các hàng hoá của
doanh nghiệp và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong kinh doanh.
Sau khi nghiên cứu thị trờng, có những thông tin chính xác về thị trờng
đó, chúng ta cần tìm kiếm đối kinh doanh. Trong mỗi thờng vụ kinh doanh,
các nhà kinh doanh cần phải ký kết hợp đồng nhằm mục đích tránh rủi ro.
Hợp đồng là văn bản bằng chứng ghi rõ những điều khoản của hai bên trên
giấy trắng mực đen có chữ ký và dấu của hai bên. Hợp đồng trong buôn bán
quốc tế là rất cần thiết. Bởi vì trong kinh doanh thơng mại quốc tế giữa các
nớc khác nhau về ngôn ngữ, pháp luật, chính trị, tôn giáo, tập quán.
2. Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá:
Giấy phép xuất khẩu hàng hoá là vấn đề qua trọng đầu tiên về mặt pháp
lý để tiến hành các khâu khác để tiuến hành xuất khẩu hàng hoá. Với hớng
hợp tác quốc tế. Nhà nớc tạo thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh
làm hàng ghoá xuất khẩu và xuất khẩu những hàng hoá không trái quy định
của nhà nớc. Nhà nớc quản lý xuất khẩu bằng quota và bằng luật pháp,
hàng hoá và đối tợng quản lý.
Thực tế nớc ta, trớc 15.12.1995 giấy phép xuất khẩu là một phần quản
lý hết sức rộng rãi. Những tốc độ và quy mô xuất khẩu ngày càng ra tăng
mạnh mẽ nên giấy phép xuất khẩu trở thành vật cản trở, kéo giài thời gian,
giây rắc rối về mặt thủ tục, hạn chế hoạt động xuất khẩu. Mặt khác tồn tại
giấy phép xuất khẩu còn có giấy phép kinh doanh xuất khẩu cũng một thủ
tục bắt buộc. Vì vặy ngay 15.12.1995, Chính phủ ra quyết định 89/CP quy
định giấy phép kinh doanh chuyển cho các doanh nghiệp muốn xuất khẩu
phục vụ hoạt động kinh doanh sản xuất đều phải xin giáy phép.
3. Chuẩn bị hàng xuất khẩu:
Hiện nay nớc ta không chỉ có các doanh nghiệp thơng mại lớn là công tác
xuất khẩu mà còn có nhiều các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là công
tác xuất khẩu trực tiếp với nớc ngoài. Do vậy đối với các doanh nghiệp
ngoại thơng kinh doanh xuất khẩu, chuẩn bị hàng xuất khẩu gồm các công
đoạn sau:
- Thu gom tập trung thành lô hàng xuất khẩu.
- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu.
- Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu.
4, k iểm tra chất l ợng hàng hoá xuất khẩu:
Đây là công việc cần thiết trong các công đoan thực hiện hợp động kinh
doanh xuất khẩu. Các nhà xuất khẩu, trớc khi chuyển hàng đi, phải có
nghĩa vụ kiểm tra về phẩm chất, số lợng, trọng lợng (hay còn gọi là
kiểm nghiệm). Nếu là hàng hoá thực vật phải kiểm tra khả năng lây lan
bệnh tật (gọi là kiểm tra).Việc kiểm nhgiệm và kiểm tra phải đợc tiến
hành ở hai cấp: cơ sở và cửa khẩu. Trong đó kiểm tra ở cơ sở do phòng
KCS tiến hành, có vai trò quyết định có tác dụng triệt để nhất. Kiểm tra ở
cửa khẩu có tác dụng kiểm tra lại kết quả ở cấp cơ sở.
5, Thuê tàu l u c ớc:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng, việc thuê
tau trở hàng phụ thuộc vào các căn cứu sau đây:
- Những điều khoản của hợp đồng mua bán.
- Đặc đIểm hàng hoá mua bán.
- Điều kiện vận tải.
Ví dụ: nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng là CIF thì đơn vị
xuất khẩu phải thuê tàu giao hàng.
6, Mua bảo hiểm :
Chuyên chở hàng bằng đờng biển thờng gặp nhiều rủi ro, tổn thất.
Bởi vậy trong kinh doanh xuất khẩu, bảo hiểm hàng hoá đờng biển là loại
bảo hiểm hàng hoá phổ biến nhất. Các đơn vị kinh doanh khi cần mua bảo
hiểm đều mua tai tổn công ty Bảo Hiểm Việt Nam. Hợp đồng bảo hiểm
gồm hai loại: hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng chủ yếu. Khi ký kết hợp
đồng bảo hiểm cần nắm vững các điều khoản bảo hiểm: bảo hiểm mọi rủi
ro (điều kiện A), bảo hiểm có buồi thờng tổn thất riêng, (điều kiện B), bảo
hiểm miễn bồi thờng tổn thất riêng (điều kiện C) và một sổ điều kiện đặc
biệt nh: bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công
7. Làm thủ tục hải quan:
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia. Để xuất khẩu đều phải
làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là công cụ để quản lý hành vi
buan bán theo pháp luật của nhà nớc, để ngăn chặn xuất khẩu qua biên
giới, kiểm tra giấy tờ có sai sót giả mạo không, để thống kê số liệu về hàng
hoá xuất khẩu. Việc làm thủ tục hải quan gồm có 3 bớc sau:
- Khai báo hải quan
- Xuất trình hàng hoá
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét