thương mại, hợp tác đầu tư và các hoạt động khác có liên quan đến kinh tế đối
ngoại với các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài. Đặc biệt là với Lào,
Công ty hoạt động theo pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam và những quy
định riêng trong toàn công ty.
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của Công ty theo
quy chế hiện hành để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của công ty.
Tuân thủ các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước và quản lý kinh
tế tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và trong giao dịch đối ngoại thực hiện
nghiêm chỉnh các cam kết hợp đồng kinh tế mà công ty đã ký. Trực tiếp xuất
nhập khẩu hàng hóa giữa nước ta với Lào và một số nước ta xuất khẩu những
sản phẩm do Công ty sản xuất ra hoặc do Công ty liên doanh sản xuất; nhập
khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của Công ty.
Nhận ủy thác xuất nhập khẩu và nhận làm các dịch vụ thuộc phạm vi kinh
doanh của Công ty theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.
Sản xuất gia công các mặt hàng xuất khẩu.
Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện tốt các
nhiệm vụ kinh doanh của Công ty.
Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượng
hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ.
+ Quyền hạn của công ty.
Công ty xuất nhập khẩu với Lào là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách
pháp nhân, thứ hai là có tài sản riêng, thứ ba tự chịu trách nhiệm độc lập về hoạt
động kinh doanh bằng tài sản của mình, thứ tư khi tham gia vào các quan hệ
kinh tế với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước các cơ quan tài phán. Do
vậy được quyền chủ động giao dịch, đàm phán ký kết và thực hiện các hợp đồng
kinh tế, hợp đồng mua bán ngoại thương và các văn bản hợp tác liên doanh liên
kết với khách hàng, đối tác trong và ngoài nước.
Được vay vốn (kể cả ngoại tệ) ở trong và ngoài nước, được thực hiện liên
5
doanh hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ở
trong nước và ngoài nước phù hợp với quy chế của pháp luật hiện hành của nhà
nước.
Công ty được tham gia tổ chức hội chợ triển lãm quảng cáo hàng hóa,
tham gia các hội nghị, hội thảo, chuyên đề liên quan đến hoạt động của Công ty
ở trong và ngoài nước.
Được cử các cán bộ của Công ty đi công tác ở nước ngoài hoặc mời bên
nước ngoài vào Việt Nam để giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng và các vấn đề
thuộc lĩnh vực kinh doanh của Công ty
Tổ chức doanh nghiệp theo hình thức có tự chủ pháp nhân thực hiện chế
độ hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo
quy định của Nhà nước.
Sổ sách kế toán và việc phân phối lợi nhuận của Công ty được thực hiện
theo quy chế hiện hành của Nhà nước.
3. Những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật chủ yếu có liên quan đến hoạt
động của Công ty
Mặc dù Công ty xuất nhập khẩu với Lào - VILEXIM là một Công ty
thương mại chuyên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu là chủ
yếu, nhưng tháng 1/2001 Công ty cũng đã đi vào khai thác một liên doanh sản
xuất sắt thép xây dựng tại thị trường Lào, do vậy Công ty có đặc trưng riêng
được thể hiện chủ yếu như sau:
a. Về thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Do là một Công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu
cho nên Công ty có quan hệ hợp tác kinh doanh, buôn bán với hơn 40 nước trên
thế giới cả Châu Á, Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ trong đó thị trường chủ yếu
là Châu Á chiếm từ 80-85% tổng doanh thu trong đó phải kể đến các nước như:
Lào, Nhật, Singapore, Hồng Kông, Indonexia, Đài Loan, Trung Quốc
Đối với thị trường nội địa thì Công ty nhập khẩu về các mặt hàng mà
Công ty có đơn đặt hàng để đáp ứng nhu cầu trong nước.
6
b. Về mặt hàng và số lượng mặt hàng của Công ty.
Các sản phẩm mà Công ty tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối
với xuất khẩu thì Công ty chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm sản như:
gạo, lạc nhân, hồ tiêu, cà phê, hạt điều, gỗ, hoa hồi, thảo quả Hàng thủ công
mỹ nghệ: đồ gốm, đồ sứ, sơn mài
Đối với hàng nhập khẩu thì Công ty chủ yếu nhập các mặt như: Kim loại
đen, kim loại màu, dây cáp nhôm, dây đồng, ống nước, đồ điện dân dụng như:
máy điều hòa, tủ lạnh. Ô tô, xe máy, hóa chất
c. Về cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của Công ty.
Để hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả yêu cầu đòi hỏi phải
nghiên cứu và đưa ra một cơ cấu tổ chức tối ưu, tận dụng được mọi khả năng
của các phòng ban và của từng thành viên trong toàn công ty theo nguyên tắc
một thủ trưởng, tạo được thế và lực cho Công ty trong sự cạnh tranh khắc nghiệt
của cơ chế thị trường.
Đứng đầu công ty là Giám đốc công ty, do Bộ Thương mại bổ nhiệm giữ
vai trò chỉ đạo và điều hành chung trong toàn công ty theo chế độ một thủ
trưởng, chịu trách nhiệm trước nhà nước và Bộ Thương mại về mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty, đảm bảo phổ bién và thi hành các chính sách
pháp luật của Nhà nước. Đại diện cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong toàn
công ty.
Dưới Giám đốc là 2 Phó giám đốc. Các phó giám đốc do giám đốc đề
nghị và được Bộ Thương mại bổ nhiệm. Phó giám đốc công ty làm tham mưu
cho giám đốc trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó có một phó giám
đốc thường trực thay mặt giám đốc giám sát, chỉ đạo một số lĩnh vực trong hoạt
động sản xuất kinh doanh tại Hà Nội, văn phòng đại diện và liên doanh sản xuất
thép tại Lào rồi báo cáo lên giám đốc.
Phó giám đốc thứ 2 thay mặt giám đốc chỉ đạo và điều hành hoạt động
kinh doanh cho chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm trước
giám đốc về hoạt động kinh doanh, chịu trách nhiệm trong việc thi hành các chế
7
độ chính sách của Nhà nước rồi báo cáo lên giám đốc.
Các phòng chức năng và các chi nhánh, các văn phòng đại diện: gồm có 3
phòng quản lý là phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán tài vụ, phòng kế
hoạch tổng hợp, 6 phòng nghiệp vụ, văn phòng đại diện tại Đông Hà, tại Lào.
+ Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho giám đốc về tổ chức bộ máy
quản lý công ty trong từng thời kỳ một cách có hiệu quả, đánh giá chất lượng
cán bộ, chỉ đạo xây dựng và xét duyệt định mức lao động, tiền lương cho các
thành viên trong công ty.
Tổ chức quản lý và thực hiện các công tác hành chính, quản trị nhằm phục
vụ và duy trì các hoạt động cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Thực hiện chế
độ chính sách đối với nhân viên, tổ chức công tác hành chính văn thư lưu trữ,
thuê, tuyển lao động
+ Phòng kế toán tài vụ: Có nhiệm vụ làm các công tác theo dõi nghiệp vụ
liên quan đến công tác hạch toán kế toán, làm công tác kiểm tra, kiểm soát việc
thực hiện các chế độ quản lý kinh tế, lập báo cáo quyết toán phản ánh kết quả
hoạt động kinh doanh theo định kỳ.
Chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động tài chính của công ty trong đó kế
toán trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo nhân viên trong phòng kế toán hạch toán theo
đúng chế độ mà nhà nước quy định.
+ Phòng kế hoạch tổng hợp: Có nhiệm vụ lập ra kế hoạch kinh doanh
chung cho toàn công ty và phân bổ kế hoạch kinh doanh cho từng phòng kinh
doanh cụ thể và báo cáo lên ban lãnh đạo tình hình hoạt động kinh doanh của
công ty từng tháng, quý, đồng thời đưa ra các biện pháp tháo gỡ những khó khăn
trong công ty
+ Phòng nghiệp vụ xuất - nhập I, II, III, IV, phòng kinh doanh dịch vụ, và
phòng đầu tư: được phép kinh doanh xuất nhập khẩu với tất cả các quốc gia trên
thế giới, bên cạnh đó còn được phép kinh doanh trên cả thị trường trong nước,
khi tìm được khách hàng các phòng này phải lập các phương án kinh doanh trình
lên giám đốc, giám đốc sẽ xét duyệt và đứng ra làm đại diện để ký kết hợp đồng
8
với khách hàng, còn các nghiệp vụ cụ thể và giao dịch do các phòng trên tiến
hành.
+ Chi nhánh và văn phòng đại diện: Hoạt động theo phương thức khoán,
trưởng chi nhánh, văn phòng đại diện có quyền quyết định và quản lý mọi hoạt
động kinh doanh của chi nhánh đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc, pháp
luật, tập thể cán bộ công nhân viên chức của chi nhánh và đại diện.
+ Liên doanh sản xuất thép: sản xuất thép xây dựng bắt đầu đi vào hoạt
động từ 1/2001 tại Lào.
Sơ đồ số 3: Tổ chức bộ máy Công ty VILEXIM
d. Nguồn nhân lực của công ty.
Tổng số cán bộ công nhân viên chức trong công ty là 87 người, chưa kể
văn phòng đại diện.
Phòng giám đốc gồm: 1 cán bộ
Phòng phó giám đốc: 2 cán bộ
Phòng tổ chức hành chính gồm: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 14 nhân
viên.
Phòng kế hoạch tổng hợp gồm: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng, 2 nhân
9
Phòn
g tổ
chức
hành
chính
Phòn
g tổ
chức
hành
chính
Phòn
g kế
toán
tài vụ
Phòn
g kế
toán
tài vụ
Phòn
g kế
hoạc
h
tổng
hợp
Phòn
g kế
hoạc
h
tổng
hợp
Phòn
g
kinh
doan
h
dịch
vụ
Phòn
g
kinh
doan
h
dịch
vụ
Phòn
g
xuất
nhập
1
Phòn
g
xuất
nhập
1
Phòn
g
xuất
nhập
2
Phòn
g
xuất
nhập
2
Phòn
g
xuất
nhập
3
Phòn
g
xuất
nhập
3
Phó giám đốc
thường trực
Phó giám đốc
thường trực
Phó giám đốc
chi nhánh
Phó giám đốc
chi nhánh
Giám đốc
Giám đốc
Chi nhánh
tại Tp Hồ Chí Minh
Chi nhánh
tại Tp Hồ Chí Minh
Phòn
g
xuất
nhập
4
Phòn
g
xuất
nhập
4
viên.
Phòng kế toán tài vụ gồm: 1 trưởng phòng, 2 phó phòng và 7 kế toán viên
Phòng xuất nhập khẩu I gồm: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân
viên.
Phòng xuất nhập khẩu II gồm: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân
viên.
Phòng xuất nhập khẩu III gồm: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân
viên.
Phòng xuất nhập khẩu IV gồm: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 8 nhân
viên.
Phòng kinh doanh dịch vụ XNK: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân
viên.
Phòng đầu tư: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 3 nhân viên.
Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh: có 20 nhân viên.
Trong đó chủ yếu là ký kết hợp đồng dài hạn chiếm 85% tổng số lao động
trong toàn công ty còn lại là ký kết theo từ 1 đến 3 năm. Đại đa số cán bộ công
nhân viên trong toàn công ty đều đã tốt nghiệp đại học, có năng lực và kinh
nghiệm trong kinh doanh. Công ty có một bộ máy quản trị viên năng động nắm
bắt nhanh nhạy với cơ chế thị trường có những quyết sách rất đúng trong việc
đưa ra chiến lược hoạt động kinh doanh của công ty.
Bảng số 1: Số lượng lao động và trình độ của công ty
S
TT
Chức vụ Số lượng Trình độ Thâm niên công tác
1 Giám đốc 1 Đại học 37 năm
2 Phó giám đốc 2 Đại học 23 - 32 năm
3 Kế toán trưởng 1 Đại học 32 năm
4 Trưởng phòng 6 Đại học 18-33 năm
5 Phó phòng 10 Đại học 15-33 năm
6 Kế toán viên 7 Đại học 4-33 năm
7 Nhân viên 59 45 Đại học - 14
trung cấp
3-33 năm
10
8 Tổng 87
Dựa vào bảng trên cho thấy Công ty có một đội ngũ nhân lực tương đối
tối ưu. Đại đa số cán bộ công nhân viên đều đã tốt nghiệp đại học chiếm tới 83%
trong toàn công ty trong đó số lao động trẻ đều đã tốt nghiệp đại học, chỉ có 14
lao động là chưa tốt nghiệp chiếm 17% nhưng đa số những nhân viên này hiện
nay đã cao tuổi. Trong suốt những năm qua công ty đã và đang thực hiện chủ
trương trẻ hóa đội ngũ nhân viên nhằm tăng thêm sự năng động, sáng tạo cho
công ty. Do công ty là công ty thương mại nên số lao động trực tiếp chiếm
không quá cao như các công ty sản xuất, mà chỉ có 54 người chiếm 63%, còn
lao động gián tiếp có 1 giám đốc, 2 phó giám đốc và 3 phòng tổ chức hành
chính, phòng kế toán tài vụ, phòng kế hoạch tổng hợp. Chiếm 37% tổng số lao
động trong toàn công ty. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của công ty.
11
Chương II
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ XUẤT KHẨU CỦA
CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VỚI LÀO
1. Phân tích thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh
Trong suốt những năm vừa qua kể từ ngày Công ty xuất nhập khẩu với
Lào - VILEXIM tách ra khỏi Công ty xuất nhập khẩu Biên giới cũng là lúc đất
nước ta bắt đầu thực hiện cơ chế mở cửa, xây dựng và phát triển nền kinh tế theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước cùng với sự thay đổi mạnh của
nền kinh tế, Công ty xuất nhập khẩu với Lào cũng từng bước phát triển và hội
nhập vào môi trường kinh doanh mới mặc dù gặp không ít khó khăn trong đó có
cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do
việc đất nước ta mới chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường do vậy chúng ta chưa có được một hệ thống chính sách đầy đủ và
đồng bộ, chưa thúc đẩy được mọi nguồn lực của từng đơn vị kinh tế, còn nhiều
chính sách chưa hợp lý gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Thứ hai, do doanh
nghiệp khi mới thành lập không phải là một đơn vị có tiềm lực kinh tế lớn đã
làm giảm hiệu quả cạnh tranh của công ty. Thứ ba, là do mới chuyển đổi cơ chế
do đó các doanh nghiệp chưa nắm bắt được thông tin đầy đủ về các thị trường kể
cả trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, khi chuyển đổi cơ chế cũng đồng
nghĩa với việc các doanh nghiệp không còn được sự bao cấp của Nhà nước mà
công ty phải tự hạch toán kinh doanh tự chịu trách nhiệm trước tài sản của công
ty khác với trước đây công ty chỉ việc thực hiện kinh doanh theo chỉ tiêu của
Nhà nước, còn thị trường đã được nhà nước lo, bị hạn chế nhiều hoạt động trong
chức năng kinh doanh, cơ sở vật chất yếu kém, chưa có kinh nghiệm thị trường.
Sau một thời kỳ đã bắt đầu đi vào ổn định thì cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ
ở khu vực ASEAN xảy ra đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới, đồng
thời tác động mạnh đến nền kinh tế nước ta trong tất cả các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, thị trường bị thu hẹp sức mua giảm. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
12
doanh xuất nhập khẩu việc khủng hoảng kinh tế đã làm cho kim ngạch xuất
nhập khẩu giảm mạnh, nhất là xuất khẩu. Những yếu tố đó đã tác động không
nhỏ đến tính hình hoạt động của công ty. Là một công ty chuyên hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu khi cuộc khủng hoảng tài chính khu
vực diễn ra cũng có nghĩa là đồng tiền của các nước ASEAN sẽ trở nên giảm giá
trị hơn so với đồng nội tệ của nước ta làm cho hàng hóa của các nước này khi
xuất khẩu sẽ rẻ hơn so vơí hàng hóa của nước ta, do vậy đã làm giảm khả năng
cạnh tranh của hàng hóa nước ta, xuất khẩu sẽ trở nên rất khó khăn, dẫn tới sức
mua giảm, nhu cầu nhập khẩu giảm xuống. Chính điều này đã làm cho lượng
khách của công ty bị giảm sút.
Đứng trước những khó khăn đó công ty đã không lùi bước, bằng mọi nỗ
lực cố gắng, đoàn kết một lòng của toàn thể cán bộ công nhân viên, Công ty
không ngừng nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu, từng bước thâm nhập thị
trường mới, củng cố thị trường truyền thống, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng
tài chính 1997-1998 vừa qua kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty không bị
ảnh hưởng mạnh, các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngày càng phong phú, cơ
cấu mặt hàng đa dạng và có khả năng chiếm lĩnh thị trường cao. Để thấy rõ được
sự tăng trưởng và phát triển của công ty trong những năm qua, chúng ta cùng
xem xét và nghiên cứu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Tình hình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty trong
những năm vừa qua.
* Tình hình tài chính của công ty.
Đối với mỗi doanh nghiệp thì để tiến hành sản xuất kinh doanh yếu tố đầu
tiên cần phải có là vốn. Tùy thuộc vào khả năng tài chính mà các chủ thể kinh
doanh tự chọn cho mình một đối tượng sản xuất, kinh doanh. Nguồn vốn cũng là
yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng
loại công nghệ nào, quy mô sản xuất là bao nhiêu. Trước đây trong thời kỳ bao
cấp, nguồn vốn của các doanh nghiệp đều do nhà nước cấp để hoạt động theo
chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước. Nhưng từ khi thực hiện chính sách đổi mới thì
13
nguồn vốn của các doanh nghiệp được trực tiếp do các doanh nghiệp quản lý và
sử dụng nó. Bên cạnh nguồn vốn do nhà nước cấp (đối vói các doanh nghiệp nhà
nước), doanh nghiệp còn được phép áp dụng các biện pháp huy động, mở rộng
nguồn vốn như: vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, phát hành cổ
phiếu trái phiếu (các công ty cổ phần), huy động vốn trong nội bộ công ty để
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, cùng với sự phát triển của xã hội, và để
cạnh tranh có hiệu quả các doanh nghiệp luôn phải đầu tư cải tiến kỹ thuật, công
nghệ, tay nghề, trình độ quản lý, tăng cường các hình thức quảng cáo,
marketing
Công ty xuất nhập khẩu với Lào là một đơn vị kinh tế ra đời trong quá
trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế. Chuyển thành 1 chủ thể kinh tế có tư
cách pháp nhân đầy đủ, thực hiện hạch toán độc lập với số vốn ban đầu là
7.370.900.000 đồng. Do đặc điểm của công ty không lấy trọng tâm là sản xuất
mà chỉ chủ yếu là kinh doanh xuất nhập khẩu nên việc phân bổ nguồn vốn của
công ty chủ yếu là vốn lưu động, nó chiếm một tỷ lệ khá lớn 59% (năm 1999)
giá trị tài sản. Vốn cố định chiếm một tỷ lệ thấp 41% (năm 99) trong công ty
phân bổ cho toàn bộ công ty dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, mỗi đơn vị thuộc
công ty đều có trách nhiệm tự quản lý và bảo quản nó.
Trong quá trình phát triển, nguồn vốn của công ty luôn được mở rộng và
phát triển cả về vốn cố định và vốn lưu động.
Bảng số 2: Khả năng tài chính của công ty qua từng năm
S
TT
Chỉ tiêu
Năm 2000
(đồng)
Năm 2001
(đồng)
Năm 2002
(đồng)
1 Vốn cố định
5.757.475.00
0
5.959.708.20
7
7.000.000.000
2 Vốn lưu động
3.474.561.00
0
5.757.474.53
9
10.000.000.00
0
3
Vốn ngân sách nhà
nước
3.018.292.00
0
4 Vốn công ty tự bổ sung 6.213.726.00
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét