Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh

tốc độ lan tràn của đám cháy. Hoạt động kinh tế xã hội của con người như:
Nương rẫy, săn bắn, du lịch v.v ảnh hưởng đến mật độ và phân bố nguồn lửa
khởi đầu của các đám cháy. Phần lớn các biện pháp phòng chống cháy rừng
đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm của của 3 yếu tố trên trong
hoàn cảnh cụ thể của địa phương.
- Nghiên cứu phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện
thời tiết, mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí với
độ ẩm vật liệu và khả năng xuất hiện cháy rừng. Vì vậy, hầu hết các phương
pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày
của lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ở một số nước, khi dự báo
nguy cơ cháy rừng ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng người ta còn căn cứ vào
một số yếu tố khác, chẳng hạn ở Đức và Mỹ người ta sử dụng thêm độ ẩm của
vật liệu cháy, ở Pháp người ta tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ
ẩm vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió, số ngày không
mưa và lượng bốc hơi v.v Cũng có sự khác biệt nhất định khi Sử dụng các
yếu tố khí tượng để dự báo nguy cơ cháy rừng, chẳng hạn ở Thuỵ Điển và
một số nước ở bán đảo Scandinavia người ta sử dụng độ ẩm không khí thấp
nhất và nhiệt độ khôngkhí cao nhất trong ngày, trong khi đó ở Nga và một số
nước khác lại dùng nhiệt độ và độ ẩm không khí lúc 13 giờ. Những năm gần
đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các yếu tố ảnh
hưởng đến nguy cơ cháy rừng, trong đó có cả những yếu tố kinh tế xã hội, và
nguy cơ cháy rừng được tính theo tổng số điểm của các yếu tố. Mặc dù có
những nét giống nhau nhưng cho đến nay vẫn không có phương pháp dự báo
cháy rừng chung cho cả thế giới, mà ở mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương
người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng. Ngoài ra, vẫn còn rất ít
phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng có tính đến yếu tố kinh tế xã hội và
kiểu rừng. Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của
phòng chống cháy rừng ngay cả ở những nước phát triển.
5
- Nghiên cứu về công trình phòng chống cháy rừng
Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại
băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy
rừng. Nhiều tác giả đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng xanh cản lửa,
trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ, đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng.
Nghiên cứu hệ thống cảnh báo cháy rừng như chòi canh, tuyến tuần tra, điểm
đặt biển báo nguy cơ cháy rừng. Nhìn chung thế giới đã nghiên cứu hiệu quả
của nhiều kiểu công trình phòng chống cháy rừng
- Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng
Khi nghiên cứu các biện pháp phòng chống cháy rừng người ta chủ yếu
hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa: (1)- Giảm nguồn lửa
bằng cách tuyên truyền không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn than sau khi
dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng,
đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng
còn lại; (2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn
ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt theo
hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy; (3)- Dùng
chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy
với ôxy không khí (nước, đất, cát, hoá chất dập cháy v.v…).
- Nghiên cứu về phương tiện phòng chống cháy rừng
Những phương tiện phòng chống cháy rừng đã được quan tâm nghiên
cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám
cháy, Thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy.
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hoá và xây dựng thành
những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo
nguy cơ cháy rừng. Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho
phép phân tích được những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính
xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng
6
rộng lớn.
Những Thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng
và biện pháp phòng chống cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh
khác nhau đến các lực lượng phòng chống cháy rừng và cộng đồng dân cư
như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trung ương,
vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…
Những phương tiện dập lửa được nghiên cứu theo cả hướng phát triển
phương tiện thủ công như: Cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương
tiện cơ giới như: Cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy đào rãnh, máy phun
nước, máy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy
và bom dập lửa v.v…
Mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng chống cháy rừng đã
được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng
khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng chống cháy rừng
hiện đại như: Mỹ, Úc, Nga vv Trong nhiều trường hợp việc khống chế các
đám cháy vẫn không hiệu quả. Nhiều người cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để
không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất. Vì vậy, đã có những nghiên cứu về
đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng chống
cháy rừng. Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng chống cháy rừng chủ yếu
được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của
công dân trong việc phòng chống cháy rừng, những hình phạt đối với người
gây cháy rừng.Thực tế hiện nay, những nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các
hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người tới nguy cơ cháy rừng không
nhiều.
2.2. Ở Việt Nam
- Nghiên cứu về dự báo nguy cơ cháy rừng
Công tác dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam được bắt đằu từ năm
1981. Tuy nhiên trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo
7
của Nesterop. Đây là phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng
được xác định theo giá trị P bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ thiếu
hụt bão hoà của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có
lượng mưa lớn hơn 3mm. Đến năm 1988, nghiên cứu của Phạm Ngọc Hưng
đã cho thấy phương pháp của Nesterop sẽ có độ chính xác cao hơn nếu tính
giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 5mm. Ngoài ra, trên cơ
sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục H (số ngày
liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, TS. Phạm Ngọc Hưng cũng đã
đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo số ngày khô hạn liên tục.
Ông xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm của cháy rừng căn cứ vào số ngày
khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm. Tuy nhiên, khi nghiên cứu
về tính thích hợp của một số phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở Miền
Bắc Việt Nam, TS. Bế Minh Châu (2001) đã khẳng định phương pháp dự báo
nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có
sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào
các thời gian chuyển mùa. Trong những trường hợp như vậy, mức độ liên hệ
của chỉ số P và H với độ ẩm vật liệu dưới rừng và tần suất xuất hiện của cháy
rừng rất thấp. Từ 1989-1991, A.N. Cooper- một chuyên gia về quản lý lửa
rừng của FAO đã đề nghị khi tính chỉ tiêu P của GS. V.G. Nesterop cho Việt
Nam nên tính đến sự ảnh hưởng của yếu tố gió. Chỉ tiêu P của Nesterop sẽ
được nhân với hệ số là 1.0, 1.5, 2.0, và 3.0 nếu có tốc độ gió tương ứng là 0-4,
5-15, 16-25, và lớn hơn 25 km/giờ. Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu này vẫn chỉ
đang ở giai đoạn thử nghiệm.
Mới đây trong hội thảo "Sinh khí hậu phục vụ quản lý bảo vệ rừng và
giảm nhẹ thiên tai" tổ chức tại trường Đại học Lâm Nghiệp, nhóm cán bộ của
trường đã giới thiệu phần mềm dự báo lửa rừng. Mục đích của nó là tự động
hoá việc cập nhật Thông tin, dự báo và tư vấn về giải pháp phòng chống cháy
rừng. Phần mềm đã được đánh giá như một sáng kiến trong dự báo lửa rừng
Việt Nam. Tuy nhiên, đây là phần mềm dự báo nguy cơ cháy rừng ở những
8
trạm đơn lẻ, chưa liên kết với kỹ thuật GIS và viễn thám, do đó chưa tự động
hoá được việc dự báo nguy cơ cháy rừng cho vùng lớn.
Nhìn chung đến nay nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy
rừng ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của
kiểu rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng
đến cháy rừng ở địa phương. Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách
hiệu quả kỹ thuật của tin học, viễn thám và các phương tiện truyền Thông
hiện đại vào dự báo, phát hiện sớm và Thông tin về cháy rừng.
Gần đây, PGS. TS. Vương văn Quỳnh đã nghiên cứu đề tài cấp nhà
nước: “ Nghiên cứu các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả của
cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên”. Tuy nhiên, đề tài chưa tính đến
yếu tố xã hội ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng. Đề tài mới chỉ nghiên cứu
cho vùng U Minh và Tây Nguyên.
Ở Quảng Ninh, chưa có tác giả nào thực hiện nghiên cứu một cách hệ
thống nguy cơ cháy rừng, các nghiên cứu mới chỉ mang tính chất đơn lẻ chủ
yếu dựa vào các yếu tố tự nhiên khí hậu mà chưa quan tâm đến yếu tố kinh tế
xã hội. Diện tích rừng của tỉnh Quảng Ninh rất lớn, tồn tại nhiều loại rừng có
nguy cơ cháy cao, đặc biệt là hai huyện Hoành Bồ và Tiên Yên. Mặt khác, hai
huyện này có thành phần các dân tộc miền núi đa dạng, đồng bào còn gặp
nhiều khó khăn, điều kiện tiếp cận với những nhận thức mới cũng như kỹ
thuật mới còn hạn chế, hiện tượng đốt nương làm rẫy một cách bữa bãi vẫn
tồn tại. Nguy cơ cháy của rừng luôn tiềm ẩn.Chính vì vậy, đòi hỏi phải tiến
hành phân loại rừng theo nguy cơ cháy để công tác quản lý rừng nói chung và
quản lý lửa rừng nói riêng được thuận lợi và đạt được hiệu quả cao.

9
PHẦN III: MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu:
- Đánh giá được khả năng cháy của các trạng thái rừng chủ yếu tại
huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng cho khu vực
nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Cháy rừng là hiện tượng thường xảy ra rất phức tạp, chịu ảnh hưởng
tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và yếu tố khách
quan. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nghiên cứu một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng
đến nguy cơ cháy của các trạng thái rừng như: Cấu trúc của các trạng thái
rừng (chiều cao dưới cành, độ tàn che, chiều cao cây bụi), khối lượng vật liệu
cháy, khoảng cách từ các trạng thái rừng đến khu dân cư, độ dốc, tính dễ cháy
của trạng thái rừng, số vụ cháy của các trạng thái rừng trong vòng 6 năm qua.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tiến hành những nội dung chủ yếu
sau:
- Nghiên cứu sự phân bố của các trạng thái rừng tại huyện Hoành Bồ và
Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Nghiên cứu đặc điểm cháy rừng tại khu vực Hoành Bồ và Tiên Yên.
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng tại khu
vực.
- Phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho khu vực Hoành Bồ và Tiên
Yên.
10
- Đề xuất một số biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng tại khu vực
nghiên cứu.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp luận
“Cháy rừng là sự xuất hiện và lan tràn của những đám cháy trong rừng
mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây nên những tổn thất
nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường”. Cháy rừng chỉ xuất hiện khi
có mặt đồng thời cả ba yếu tố: Nguồn lửa, ôxy và vật liệu cháy.
Nguồn lửa phát sinh có thể do con người hoặc những hiện tượng trong
tự nhiên. Ở Việt Nam, hầu hết các vụ cháy là do con người gây ra bởi các
hoạt động kinh tế xã hội. Do vậy, hoạt động kinh tế xã hội là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến cháy rừng. Những hoạt động này luôn diễn ra phong
phú, đa dạng và sự tác động đến cháy rừng của những hoạt động đó cũng
không đơn giản. Vì vậy, đề tài chỉ xét đến yếu tố khoảng cách từ khu dân cư
đến trạng thái rừng làm đại diện để nghiên cứu sự ảnh hưởng của hoạt động
kinh tế, xã hội đến nguy cơ cháy rừng cho khu vực nghiên cứu.
Ôxy là yếu tố không thể thiếu để duy trì đám cháy. Tuy nhiên, yếu tố
này luôn tồn tại trong tự nhiên ở mức trên dưới 21%. Sự tác động vào nhân tố
này là không thể, nên đề tài không đề cập đến yếu tố này.
VLC là sản phẩm hữu cơ do rừng tạo ra. Đây là yếu tố quyết định cả
sự phát sinh và phát triển của đám cháy. Những tính chất của VLC về: khối
lượng, độ ẩm, thành phần…chủ yếu do đặc điểm trạng thái rừng quyết định.
Các trạng thái rừng khác nhau thì nguy cơ cháy rừng cũng có thể khác nhau.
Do đó, đề tài sử dụng một số chỉ tiêu cấu trúc rừng như: Chiều cao dưới cành
của cây rừng, độ che phủ, chiều cao của lớp cây bụi và khả năng dễ cháy của
loài cây để nghiên cứu phân loại các trạng thái rừng theo khả năng cháy cho
khu vực nghiên cứu.
11
Tóm lại, phương pháp nghiên cứu chung của đề tài là để có thể đánh
giá khả năng cháy của các trạng thái rừng, cần tính đến ảnh hưởng tổng hợp
của nhiều yếu tố cả yếu tố tự nhiên và xã hội.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1. Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, đặc điểm tài
nguyên rừng và tình hình cháy rừng của khu vực
Đề tài sử dụng phương pháp tham khảo và kế thừa tài liệu có sẵn của
UBND huyện, UBND các xã, các hạt Kiểm lâm và của các Lâm trường thuộc
khu vực Hoành Bồ và Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả điều tra về tình
hình cháy được ghi vào mẫu biểu 01.
Biểu 01: Mẫu biểu điều tra số vụ cháy rừng của khu vực nghiên cứu
Huyện Xã Số vụ
cháy
Thời gian
cháy
Diện tích
cháy
Trạng thái
cháy
3.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy
của các trạng thái rừng
Các yếu tố mà đề tài sử dụng để phân loại các trạng thái rừng theo nguy
cơ cháy bao gồm: Khối lượng VLC ở các trạng thái rừng, độ dốc, cấu trúc
(Hdc, độ che phủ, chiều cao tầng cây bụi), khoảng cách từ khu dân cư đến
rừng, số vụ cháy của các trạng thái rừng trong 6 năm qua, tính dễ cháy của
trạng thái rừng.
Để có Thông tin về các trạng thái rừng và số vụ cháy đã xảy ra đề tài sử
dụng phương pháp chung là tham khảo và kế thừa tài liệu sẵn có và kết hợp
với điều tra thực tế.
Khoảng cách từ các trạng thái rừng đến khu dân cư được xác định bằng
phương pháp đo vẽ trên bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng và kết hợp với đo
12
ngoài thực địa bằng máy định vị GPS. Yếu tố này được tính bằng số trung
bình của khoảng cách xa nhất và khoảng cách gần nhất từ khu dân cư đến
trạng thái rừng đó.
Độ dốc được xác định bằng bản đồ địa hình và đo ngoài thực địa bằng
địa bàn cầm tay.
Các chỉ tiêu điều tra về cấu trúc rừng bao gồm: Chiều cao dưới cành
(Hdc), độ che phủ (ĐCP), chiều cao tầng cây bụi thảm tươi (Hcbtt) và khối
lượng VLC được xác định bằng phương pháp điều tra chuyên ngành
Ở Mỗi trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu tiến hành lập 2 ÔTC,
500m
2
(20x25 m) trên mỗi ÔTC tiến hành điều tra các chỉ tiêu: Hvn, Hdc,
D1.3, Dt, độ che phủ. Kết quả ghi vào biểu:
Mẫu biểu 01: Mẫu biểu điều tra tầng cây cao
STTÔTC: Trạng thái
rừng:
Toạ độ: Độ tàn che:
Độ dốc: Độ cao:
Ngày điều tra: Người điều tra:
Huyện: Xã:
.
STT Loài cây Hvn Hdc Dt D1.3 Ghi chú
1

Trên mỗi ÔTC 500m
2
tiến hành lập 5 ÔDB kích thước (4 x 4 m
2
), trên
mỗi ÔDB tiến hành điều tra các đặc trưng của lớp cây bụi thảm tươi: Htb, độ
che phủ, sinh trưởng. Kết quả được ghi vào biểu:
Mẫu biểu 02: Mẫu biểu điều tra cây bụi thảm tươi và cây tái sinh
Stt ÔDB Loài cây Htb Độ tàn che Sinh trưởng
1

- Điều tra VLC: VLC của mỗi trạng thái rừng được điều tra trên 5 ÔDB
mỗi ô có kích thước 1m
2
. Tiến hành điều tra các loại VLC:
13
+ VLC khô: Đây là các sản phẩm rơi rụng khô của cây rừng có kích
thước 1cm.
+ VLC tươi dễ cháy: Đây là những cây bụi, cỏ tươi nhưng dễ cháy.
+ VLC tươi khó cháy: Là những loại cây bụi khó cháy.
Kết quả được ghi vào biểu sau:
Mẫu biểu 03: Biểu điều tra vật liệu cháy
STT
ÔDB
Khối lượng VLC (g) Tổng
(g)
Bề dày VLC
khô(cm)
VLC khô
VLC tươi
Khó cháy Dễ cháy
1

3.4.3. Phương pháp xử lý Thông tin
3.4.3.1. Phân loại rừng theo nguy cơ cháy
Đề tài tiến hành điều tra 13 trạng thái rừng chủ yếu mang tính đại diện
chung cho khu vực nghiên cứu về các yếu tố liên quan.
Để so sánh về mức độ cháy của các trạng thái rừng đề tài sử dụng
phương pháp chỉ số hiệu quả canh tác cải tiến (Ect) không trọng số và chỉ số
Ect có trọng số.
3.4.3.1.1. Phương pháp chỉ số Ect không trọng số
Trước hết lập bảng thống kê các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy
của các trạng thái rừng. Sau đó tiến hành chuẩn hoá số liệu điều tra (xác định
các chỉ số Fij):
- Với những yếu tố mà giá trị càng cao thì nguy cơ cháy càng lớn:
Fij =
XMax
Xij
- Với những yếu tố có giá trị càng cao thì nguy cơ cháy càng giảm:
Fij =
Xij
XMin
Trong đó Xij: Là giá trị các yếu tố của trạng thái rừng thứ i
Xmax: Là giá trị lớn nhất của yếu tố thứ j.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét