Ngoài cổ phiếu (thường và ưu đãi) và trái phiếu đã được biết đến, các
công ty chứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (trung ương và
địa phương), chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa
chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng phù hớp với thay đổi trên thị trường và
môi trường kinh tế.
1.1.3. Mô hình công ty chứng khoán
1.1.3.1. Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tienè tệ. Mô hình
này chia thành hai loại:
- Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có
khả năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt khác,
ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh
chứng khoán.
Hạn chế của mô hình này là không phát triển được thị trường cổ phiếu vì
các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là bảo
lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đồng thời, các ngân hàng cũng rất dễ gây
lũng loạn thị trường, và các biến động trên thị trường chứng khoán, nếu có, sẽ
ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không
tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh này.
1.1.3.2. Mô hình chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân
hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
5
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng
và tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển.
1.1.4. Tổ chức của công ty chứng khoán
1.1.4.1. Công ty hợp danh
Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên. Thành viên tham gia
vào quá trình ra quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh. Các
thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách
nhiệm với những khoản nợ mà công ty hợp danh bằng toàn bộ tài sản của
mình. Ngược lại, các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi
là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công
ty giới hạn trong số vốn góp của họ.
Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới hạn
trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp.
1.1.4.2. Công ty trách nhiệm hữu hạn
Đây là loại công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn
trong số vốn mà họ đã góp. Vì thế điều này gây tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với
người đầu tư.
Mặt khác, về phương diện huy động vốn, cũng đơn giản và linh hoạt hơn
so với công ty hợp danh. Đồng thời, vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng
động hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
Vì những lý do đó, rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt động
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
1.1.4.3. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổ
đông. Đại hội cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ định
ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý
khác để điều hành công ty theo sách lược kinh doanh đã đề ra. Giấy chứng
nhận cổ phiếu không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiện quyền lợi của
6
người sở hữu nó đối với tài sản của công ty. Công ty vẫn tồn tại khi quyền sở
hữu của công ty bị thay đổi.
Các ưu điểm của công ty cổ phần:
Đây là một loại hình công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc
thay đổi cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời.
Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất
định. Nếu công ty thua lỗ và phá sản, cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đã
đầu tư vào công ty.
Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu.
Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo loại hình công
ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo
miễn phí.
Hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn
hai hình thức trên.
Do các ưu điểm trên, ngày nay các công ty chứng khóan chủ yếu tồn tại
dưới hình thức các công ty cổ phần, thậm chí nhiều nước (như Hàn Quốc
chẳng hạn) còn quy định công ty chứng khoán bắt buộc là công ty cổ phần.
1.1.5. Đặc trưng của công ty chứng khoán
1.1.5.1. Chuyên môn hóa và phân cấp quản lý
Các công ty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ
phận, từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ.
Do chuyên môn hóa cao độ dẫn đến phân cấp quản lý và làm nảy sinh
việc có quyền tự quyết.
Một số bộ phận trong tổ chức công ty nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau
(ví dụ bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận bảo lãnh phát hành…).
1.1.5.2. Nhân tố con người
Nói chung, trong công ty chứng khoán, quan hệ với khách hàng có tầm
quan trọng số một. Sản phẩm càng trừu tường thì nhân tố con người càng
quan trọng.
7
Khác với các công ty sản xuất, trong công ty chứng khóan, việc thăng
tiến cất nhắc lên những địa vị cao hơn là không quan trọng.
Các chức vụ quản lý hay giám đốc trong công ty còn có thể nhận được ít
thù lao hơn so với một số nhân viên cấp dưới.
1.1.5.3. Ảnh hưởng của thị trường tài chính
Thị trường tài chính nói chung, thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh
hưởng lớn tới chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của
công ty chứng khoán. Thị trường chứng khoán càng phát triển thì càng có khả
năng tạo thêm các công cụ tài chính và đa dạng hóa dịch vụ, qua đó có thêm
các cơ hội thu lợi nhuận. Với những mức độ phát triển khác nhau của thị
trường, cơ cấu tổ chức của các công ty chứng khoán cũng khác nhau để đáp
ứng những nhu cầu riêng. Công ty chứng khoán ở một số nước như Mỹ, Nhật
Bản có cơ cấu tổ chức rất phức tạp, trong khi cơ cấu tổ chức công ty chứng
khoán ở một số nước mới có thị trường chứng khoán như Đông Âu và Trung
Quốc đơn giản hơn nhiều.
1.1.5.4. Cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ
chứng khoán mà công ty thực hiện hiện chũng như quy mô hoạt động kinh
doanh chứng khoán của nó. Tuy nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ
thống các phòng ban chức năng được chia ra làm hai khối tương ứng với hai
khối công việc mà công ty chứng khoán được đảm nhận.
Khối I (front office): thực hiện các giao dịch mua bán kinh doanh chứng
khoán, nói chung là có liên hệ với khách hàng. Khối này đem lại thu nhập cho
công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm
phù hợp với nhu cầu đó. Trong khối này, ứng với một nghiệp vụ chứng khoán
cụ thể, công ty có thể tổ chức một phòng để thực hiện. Vì vậy công ty thực
hiện bao nhiêu nghiệp vụ sẽ có thể có từng ấy phòng và nếu công ty chứng
khoán chỉ thực hiện một nghiệp vụ, có thể sẽ chỉ có một phòng thuộc khối
8
này. Tuy vậy, tùy quy mô từng nghiệp vụ và mức độ chú trọng vào các nghiệp
vụ khác nhau mà công ty có lợi thế, công ty chứng khoán có thể kết hợp một
số nghiệp vụ vào một phòng (ví dụ phòng nghiên cứu phân tích với phòng tư
vấn hay bảo lãnh phát hành); hoặc có thể chia nhỏ các phòng thành nhiều tổ
do khâu đoạn phức tạp (như phòng giao dịch có thể tách thành tổ marketing
và tổ thực hiện lệnh).
Khối II (back office): Thực hiện các công việc yểm trợ cho khối I. Nói
chung, bất kỳ một nghiệp vụ nào ở khối I đều cần sự trợ giúp của các phòng
ban thuộc khối II.
1.2. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1.Khái niệm
Theo luật doanh nghiệp “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.”
Vậy hoạt động kinh doanh là hoạt động nhằm thực hiện một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư nhằm mục đích sinh lợi.
1.2.2. Các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.2.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
* Khái niệm
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để nhận hoa hồng.
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong
đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch
thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC
mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc
giao dịch đó.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến
khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư
9
bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán. Và trong những trường
hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ
những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời đồng viên kịp thời cho nhà đầu
tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo.
* Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán
- Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
+ Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho
khách hang các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
+ Nối liền những người bán và những người mua: đem đến cho khách
hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
- Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hang khi cần thiết: trở thành
người bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời động
viên kịp thời.
- Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (điển hình là sợ hãi và tham
lam), để giúp khách hang có những quyết định tỉnh táo.
- Đề xuất thời điểm bán hàng.
* Những nét đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán
- Lao động cật lực, thù lao xứng đáng
- Những phẩm chất cần có: kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử
- Nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ của
công ty trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực
hiện các lệnh của khách hàng.
* Quy trình thực hiện
- Mở tài khoản giao dịch cho khách hàng: Khách hàng muốn giao dịch
mua bán các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán niêm yết phải đến
các công ty chứng khoán mở tài khoản. Các công ty chứng khoán làm mọi thủ
tục cần thiết để mở tài khoản cho khách hàng.
10
- Nhận lệnh từ khách hàng: Sau khi tiến hành mở tài khoản thì khách
hàng có thể thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán từ tài khoản của
mình bằng cách đặt lệnh mua bán chứng khoán tại công ty chứng khoán mà
mình mở tài khoản. Để đặt lệnh giao dịch thì khách hàng có thể đến trực tiếp
công ty ghi phiếu lệnh, bằng điện thoại hoặc có thể thông qua bằng internet
tùy theo điều kiện của từng công ty chứng khoán. Khi tiến hành nhận lệnh của
khách hàng thì nhân viên môi giới phải kiểm tra tài khoản của khách hàng
xem có đủ chứng khoán và tiền mặt theo yêu cầu giao dịch.
- Thực hiện lệnh: Sau khi nhận lệnh giao dịch từ khách hàng và kiểm tra
lệnh thì nhân viên môi giới nhập lệnh vào hệ thống để chuyển tới đại diện sàn
giao dịch.
- Xác nhận kết quả: Sau khi lệnh đã được thực hiện thành công thì công
ty chứng khoán tiến hành gửi đến khách hàng giấy xác nhận kết quả giao dịch
về loại chứng khoán, số lượng chứng khoán và giá chứng khoán mà khách
hàng đã thực hiện mua bán theo yêu cầu.
1.2.2.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán
* Khái niệm
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tiến hành các giao dịch mua bán
các loại chứng khoán cho chính mình.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên
các thị trường giao dịch tập trung (trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao
dịch chứng khoán), hoặc trên thị trường OTC,…Trên thị trường giao dịch tập
trung, lệnh giao dịch của các công ty chứng khoán được đưa vào hệ thống và
thực hiên tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng. Trên thị trường
OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty với các
đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin. Tại một số nước, hoạt
động tự doanh của các công ty chứng khoán còn được thực hiện thông qua
hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ như ở Mỹ). Trong hoạt động này, công ty
11
chứng khoán đóng vai nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng nhất định
của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm
hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá.
* Mục đích của hoạt động tự doanh
Mục đích của hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán nhằm thu
lợi cho chính mình. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của
thị trường, pháp luật các nước đều yêu cầu các công ty chứng khoán khi thực
hiện nghiệp vụ tự doanh phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định về vốn và con
người. Để thực hiện hoạt động tự doanh, các công ty chứng khoán phải cố đủ
một số vốn nhất định theo quy định của pháp luật. Việc quy định mức vốn
trên nhằm mục đích đảm bảo rằng các công ty chứng khoán thực sự có vốn và
dùng vốn của họ để kinh doanh. Tương tự như vậy, con người cũng là yếu tố
quyết định đến sự thành công của hoạt động tự doanh. Kinh doanh chứng
khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối rất lớn của nhana tố con người
và thông tin. Nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự doanh của công ty phải có một
trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng tự quyết cao và đặc biệt là tính
nhạy cảm trong công việc.
* Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh
- Tách biệt quản lý: Các công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữa
nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ rang
trong hoạt động. Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và các quy
trình nghiệp vụ. Các công ty chứng khoán phải có đôi ngũ nhân viên riêng
biệt để thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Các nhân viên này phải hoàn toàn tách
biệt với bộ phận môi giới. Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán còn phải
đảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách hàng với các tài sản của chính
công ty.
- Ưu tiên khách hàng: Pháp luật của hầu hết các nước đều yêu cầu công
ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện
12
nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải
được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công
bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán. Do có tính đặc
thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các công ty
chứng khoán có thể sẽ dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua
hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên.
- Bình ổn thị trường: Do tính đặc thù của thị trường chứng khoán, đặc
biệt là các thị trường chứng khoán mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu
tư cá nhân, nhỏ lẻ thì tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư không cao.
Điều này dễ dẫn đến những biến động bất thường trên thị trường. Vì vậy, các
nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫ cho toàn
bộ thị trường. Bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các công
ty chứng khoán với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể
thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu,
bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường.
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán còn phải tuân thủ một số quy định
khác như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư… Mục đích của các quy định
này là nhằm đảm bảo một độ an toàn nhất định cho các công ty chứng khoán
trong quá trình hoạt động, tránh những sự đổ vỡ gây thiệt hại chung cho cả thị
trường.
* Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động tự doanh
Giai đoạn 1: Xây dựng chiến lược đầu tư
Trong giai đoạn này, công ty chứng khoán phải xác định được chiến lược
trong hoạt động tự doanh của mình. Đó có thể là chiến lược đầu tư chủ động,
thụ động hoặc đầu tư vào một số ngành nghề, lĩnh vực cụ thể nào đó.
Giai đoạn 2: Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư
Sauk hi xây dựng được chiến lược đầu tư của công ty, bộ phận tự doanh
sẽ triển khai tìm kiếm các nguồn hàng hóa, cơ hội đầu tư trên thị trường theo
13
mục tiêu đã định.
Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có thể kết hợp với bộ phận phân
tích trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản đầu
tư. Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận cụ thể về việc công ty có
nên đầu tư hay không đầu tư và với số lượng, giá cả bao nhieue là hợp lý.
Giai đoạn 4: Thực hiện đầu tư
Sau khi đã đánh giá, phân tích các cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh sẽ
triển khai thực hiện các hoạt động giao dịch mua, bán chứng khoán. Cơ chế
giao dịch sẽ tuân theo các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chung
trong ngành.
Giai đoạn 5: Quản lý đầu tư và thu hồi vốn
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có trách nhiệm theo dõi các
khoản đầu tư, đánh giá tình hình và thực hiện những hoán đổi cần thiết, hợp
lý. Sau khi thu hồi vốn, bộ phận tự doanh sẽ tổng kết, đánh giá lại tình hình
thực hiện và lại tiếp tục chu kỳ mới.
1.2.2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
* Khái niệm
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối
chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi
phát hành. Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng
ra làm bảo lãnh phát hành.
Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng
khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán
để hưởng hoa hồng.
Thông thường, để phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát
hành cần phải có được sự bảo lãnh của một công ty nhỏ, và số lượng phát
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét