Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công
cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.
Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như
hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ
như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động
truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới (ví dụ
như siêu thị ảo).
Tóm lại, theo nghĩa rộng thì TMĐT có thể được hiểu là các giao dịch
tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện
tử; chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại
được thực hiện thông qua mạng Internet. Các tổ chức như: Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm
về thương mại điện tử theo hướng này. TMĐT được nói đến ở đây là hình
thức mua bán hàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương
thức thanh toán bằng thẻ tín dụng. Có thể nói rằng TMĐT đang trở thành một
cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người.
Theo WTO: Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán
hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet,
nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận
cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet.
Khái niệm về TMĐT do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên
Hợp quốc đưa ra là: Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao
dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như
Internet.
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp
TMĐT chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua
mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện
thoại, fax, telex
Qua nghiên cứu các khái niệm về TMĐT như trên, hiểu theo nghĩa rộng
thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin
liên lạc đã tồn tại hàng chục năm nay và đạt tới doanh số hàng tỷ USD mỗi
ngày. Theo nghĩa hẹp thì TMĐT chỉ mới tồn tại được vài năm nay nhưng đã
đạt được những kết quả rất đáng quan tâm, TMĐT chỉ gồm các hoạt động
thương mại được tiến hàng trên mạng máy tính mở như Internet. Trên thực tế,
chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh
thuật ngữ Thương mại điện tử.
1.2. Vai trò của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp
Thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng nhân rộng
trên phạm vi thế giới. Cho dù các nguồn nghiên cứu khác nhau đưa ra những
con số chênh lệch khá lớn về ước tính về giá trị TMĐT toàn cầu, những con
số này vẫn cho thấy một tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức 60-70%.
Thương mại điện tử không chỉ giải quyết những yêu cầu cấp thiết, cấp
bách trên các lĩnh vực như hệ thống giao dịch hàng hoá, điện tử hoá tiền tệ và
phương án an toàn thông tin , mà hoạt động thực tế của nó còn tạo ra những
hiệu quả và lợi ích mà mô hình phát triển của thương mại truyền thống không
thể nào sánh kịp.
Thương mại điện tử trong khái niệm TMĐT được hiểu là mọi vấn đề
nảy sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm: việc cung
cấp hoặc trao đổi hàng hoá - dịch vụ, thoả thuận phân phối, đại diện hoặc đại
lý thương mại, uỷ thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng công trình, tư
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
vấn, hợp tác về công nghiệp, về chuyên chở bằng đường biển, đường sắt hoặc
đường bộ. Như vậy, áp dụng phương thức TMĐT có khả năng giải quyết
được mọi vấn đề có liên quan đến thương mại mà để thực hiện nó cần có sự
trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông.
Áp dụng phương thức kinh doanh thương mại điện tử nhằm mang tới
những đột phá lớn về hiệu quả và tăng khả năng hội nhập của DN trên cả thị
trường trong và ngoài nước.
Áp dụng phương thức kinh doanh thương mại điện tử sẽ giảm bớt các
rào cản đối với việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, giúp cho DN có
khả năng tiếp nhận các dịch vụ này một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. Nó
cũng sẽ giúp cho các quốc gia, các DN ( nhất là DN vừa và nhỏ) có thể kết
nối, giao dịch với các đối tác trên phạm vi toàn cầu và chủ động với hoạt động
hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Thông qua phương thức kinh doanh
TMĐT, DN có thể quảng cáo trực tuyến tới khách hàng tiềm năng ở khắp mọi
nơi trên thế giới trong khi nếu sử dụng các phương tiện quảng cáo truyền
thống thì họ không thể tiến hành được.
Thực hiện phương thức kinh doanh TMĐT tức là tạo được sự kết nối và
mối quan hệ chặt chẽ giữa Chính phủ, DN và người tiêu dùng trong việc mua
bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Chính vì vậy, áp dụng phương thức kinh
doanh TMĐT có tầm quan trọng đặc biệt và khác hẳn so với việc áp dụng các
phương thức kinh doanh khác trên thị trường. Cụ thể là:
Ứng dụng và phát triển TMĐT sẽ giúp các quốc gia nhanh chóng trở
thành một nước công nghiệp hiện đại, tạo ra diện mạo mới, làm thay đổi mọi
mặt đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia. Trên thực tế, áp dụng phương thức
kinh doanh TMĐT không chỉ là một cuộc cải cách các phương thức kinh
doanh mà thực chất là một cuộc đổi mới về cơ cấu và phương thức vận động
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
của nền kinh tế. Đây là phương thức kinh doanh mà mọi hoạt động có liên
quan đến thương mại đều được đưa lên mạng, mở rộng cơ hội mua bán hàng
hoá và dịch vụ, hạ thấp chi phí, nâng cao hiệu quả giao dịch, nâng cao năng
lực cạnh tranh của các quốc gia cũng như của DN trên thị trường toàn cầu.
Theo phương thức kinh doanh TMĐT, khoảng cách giữa người bán với
người mua, giữa người sản xuất với người tiêu dùng được thu hẹp rất nhiều.
Người sản xuất, người bán hàng có thể giới thiệu hàng hoá của mình trên
mạng, người mua có thể nhìn thấy sản phẩm, biết được đặc tính của sản
phẩm.
Với phương thức kinh doanh bán hàng này, người sản xuất và người
bán hàng cùng có lợi. Người sản xuất không cần kho chứa hàng, người bán
hàng không cần có cửa hàng và hàng hoá được quản lý một cách có hiệu quả
hơn. Đây là xu thế phát triển dễ hiểu của thương mại quốc tế vì khi hoạt động
thương mại quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sôi động và với cường độ
ngày càng lớn thì đòi hỏi người ta phải tiết kiệm thời gian cũng như chi phí.
Sự ra đời và phát triển của TMĐT đã làm giảm đáng kể chi phí lao động của
toàn xã hội
Áp dụng phương thức kinh doanh TMĐT giúp DN nắm được các thông
tin thị trường một cách đầy đủ, phong phú và từ đó có thể xây dựng được cho
mình một chiến lược sản xuất – kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển của
thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Điều này có
tầm quan trọng đặc biệt đối với các DN vừa và nhỏ, một lực lượng có vai trò
như động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế.
Kinh doanh theo phương thức TMĐT giúp DN giảm được chi phí sản
xuất, trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng không giấy tờ, có diện
tích nhỏ, chi phí tìm kiếm, chuyển giao tài liệu giảm đi rất nhiều so với giao
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
dịch trực tiếp. Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải
phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ và họ có thể tập trung vào hoạt động
nghiên cứu phát triển nhằm đưa đến lợi ích to lớn và lâu dài cho DN và cho
toàn xã hội.
Áp dụng phương thức kinh doanh TMĐT giúp DN có thể giảm chi phí
bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng các phương tiện hiện đại (Internet/Web),
một nhân viên bán hàng có thể cùng một lúc giao dịch được với nhiều khách
hàng, một trang Web của DN có thể giới thiệu đến nhiều khách hàng nhiều
thông tin về DN, nhiều thông tin về các sản phẩm của DN làm phong phú
thêm điều kiện lựa chọn của khách hàng.
Áp dụng phương thức kinh doanh TMĐT (qua Internet/Web), giúp cho
DN và người tiêu dùng giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch vì thời
gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng
0,05% thời gian giao dịch qua bưu điện; chi phí thanh toán điện tử qua
Internet chỉ bằng 10 – 20% so với chi phí thanh toán bằng các phương tiện
thông thường khác. Việc giảm thời gian và chi phí giao dịch là hai yếu tố cơ
bản làm cho hàng hoá, dịch vụ nhanh chóng tiếp cận người tiêu dùng mà
không phải qua trung gian. Đây là vấn đề hết sức quan trọng để nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ khi đưa ra thị trường.
Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông, việc áp dụng
phương thức kinh doanh TMĐT sẽ làm tăng thêm khả năng cạnh tranh cho
DN. Internet có xu thế tạo lợi nhuận cho cả công ty lớn và công ty nhỏ, kể cả
các DN tư nhân và cá nhân người sản xuất. Vì đây là sân chơi bình đẳng nên
các DN dù nhỏ nhưng thông qua Website của mình họ cũng có thể đạt được
một doanh thu lớn mà điều này là khó có thể có trong việc áp dụng các
phương thức kinh doanh truyền thống. Mặt khác, khi áp dụng phương thức
TMĐT, doanh nghiệp có thể đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và cung cấp
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
các dịch vụ tư vấn cũng như các thông tin cần thiết cho khách hàng một cách
nhanh chóng nhất.
Áp dụng phương thức TMĐT sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập và
củng cố quan hệ giữa các đối tác tham gia vào quá trình thương mại. Thông
qua mạng, các DN có thể giao dịch trực tiếp và liên tục với nhau, hàng hoá có
thể được cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng mà không phải qua các
khâu trung gian. Mặt khác, thông qua Internet, các bạn hàng mới, các cơ hội
kinh doanh mới dễ dàng được phát hiện nhanh chóng không chỉ trong phạm vi
quốc gia mà còn được mở rộng trên phạm vi toàn cầu.
Áp dụng phương thức kinh doanh TMĐT sẽ giúp cho các DN sớm tiếp
cận với kinh tế số hoá, tạo cho các nước đang phát triển một bước tiến nhảy
vọt để theo kịp các nước khác trong thời gian ngắn nhất. Trong điều kiện hội
nhập WTO của nước ta hiện nay, việc thiếu các phương tiện kỹ thuật đủ mạnh
và lực lượng cán bộ đủ năng lực đang là khó khăn lớn để các DN thực hiện
hiệu quả phương thức kinh doanh thương mại hiện đại này.
Tóm lại, đối với các DN, lợi ích lớn nhất mà TMĐT mang lại cho họ
chính là sự tiết kiệm chi phí và sự thuận lợi của các bên khi tham gia giao
dịch. Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với giao dịch truyền
thống, ví dụ: gửi fax hay thư điện tử thì nội dung thông tin đến tay người nhận
nhanh hơn là gửi thư theo đường bưu điện. Các giao dịch qua Internet có chi
phí rất rẻ, một DN có thể gửi thư tiếp thị, chào hàng đến hàng loạt các khách
hàng với mức chi phí bỏ ra chỉ bằng chi phí đối với một khách hàng. Với
TMĐT, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, giữa thành phố
với nông thôn, từ nước này sang nước kia, hay nói cách khác là không bị giới
hạn bởi không gian địa lý. Điều này cho phép các DN tiết kiệm chi phí sản
xuất, chi phí tiếp thị, chi phí bán hàng và chi phí giao dịch. Bên cạnh đó, DN
có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, liên lạc với đối tác và khách hàng ở bất
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
kỳ đâu với chi phí thấp hơn so với phương thức tiếp cận thị trường truyền
thống. Những lợi ích này chỉ có được với những DN thực sự nhận thức được
giá trị của TMĐT.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại điện tử của
doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập
1.3.1. Môi trường pháp lý và chính sách
Thương mại điện tử là một loại hình hoạt động xã hội mới, gắn liền với
hạ tầng công nghệ, do vậy phải có một khung pháp lý điều chỉnh thích hợp.
Tuy nhiên, việc ban hành đầy đủ các văn bản pháp lý trong lĩnh vực này là
công việc không hề đơn giản, đòi hỏi sự nghiên cứu và quan sát từ chính quá
trình tham gia TMĐT.
Cơ sở pháp lý của TMĐT bao gồm hàng loạt các vấn đề như các đạo
luật và chính sách về TMĐT. Để thương mại điện tử phát triển, hệ thống pháp
luật của quốc gia phải từng bước hoàn chỉnh để bảo đảm tính pháp lý của các
giao dịch TMĐT, của hợp đồng và các chứng từ điện tử. Hạ tầng cơ sở pháp
lý của TMĐT còn góp phần đảm bảo tính pháp lý của sở hữu trí tuệ và chuyển
giao công nghệ, bảo đảm các bí mật cá nhân của người tham gia giao dịch
thương mại điện tử. Hạ tầng cơ sở pháp lý của TMĐT cũng bao gồm các vấn
đề xử lý các hành vi phá hoại, những hành vi cản trở hoặc gây thiệt hại cho
hoạt động TMĐT ở phạm vi quốc gia và quốc tế.
1.3.2. Bối cảnh kinh tế - xã hội
Hạ tầng cơ sở của TMĐT là một tổng hoà nhiều vấn đề có liên quan
đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, trong đó hạ tầng cơ sở kinh tế -
xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của TMĐT. Hạ tầng
kinh tế - xã hội của TMĐT có thể hiểu là toàn bộ các nhân tố, các điều kiện
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
cơ bản về kinh tế - xã hội nhằm tạo ra môi trường cho sự hình thành và phát
triển của TMĐT.
Quá trình thực hiện hoạt động TMĐT trước hết là quá trình con người
sử dụng hệ thống các cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế để thực hiện các
hành vi thương mại. Đối với TMĐT, một khi các hạ tầng cơ sở kinh tế chưa
có hoặc không đầy đủ thì không thể thực hiện được các nội dung của TMĐT.
Để thương mại điện tử thực sự đi vào đời sống cần phải có sự nhận thức sâu
sắc của chính phủ, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chiến lược và toàn xã
hội về cơ hội phát triển và những lợi ích mà nó mang lại. Chính phủ phải nhận
thức được cơ hội và lợi ích của TMĐT để thiết lập môi trường kinh tế, xã hội
và pháp lý cho TMĐT. Các nhà quản lý, các nhà hoạch định chiến lược nhận
thức được cơ hội và lợi ích của TMĐT để vạch chiến lược phát triển và đề ra
giải pháp thích hợp. Từ chiến lược và giải pháp đó mà có kế hoạch phát triển
cơ sở hạ tầng công nghệ, có chính sách phát triển. Toàn xã hội nhận thức
được cơ hội và lợi ích của TMĐT để tham gia vào hoạt động thương mại điện
tử với tư cách là những chủ thể của quá trình.
1.3.3. Hạ tầng cơ sở nguồn nhân lực
Để có thể phát triển được TMĐT cũng cần phải có nguồn nhân lực có
trình độ tương ứng. Con người cấu thành cơ sở nhân lực của thương mại điện
tử trước hết là đội ngũ các chuyên gia tin học, thường xuyên cập nhật những
kiến thức của công nghệ thông tin và có khả năng đưa vào ứng dụng trong
môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể. Đội ngũ các chuyên gia công nghệ
thông tin và kỹ thuật máy tính sẽ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho TMĐT.
Đồng thời với các chuyên gia công nghệ thông tin và kỹ thuật máy tính, các
nhà kinh doanh, những người quản lý, các chuyên viên và các khách hàng tiêu
thụ cũng phải có trình độ nhất định về công nghệ thông tin, về ngoại ngữ và
kỹ năng giao dịch trên mạng thì mới có khả năng tham gia TMĐT. Một đội
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin
mới, phát triển để phục vụ cho kinh tế số hóa nói chung và TMĐT nói riêng,
cũng như có khả năng thiết kế các chương trình phần mềm đáp ứng được nhu
cầu hoạt động của một nền kinh tế số hóa, tránh bị động, lệ thuộc hoàn toàn
vào nước khác. Vì vậy, TMĐT sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản cả hệ thống giáo
dục và đào tạo.
1.3.4. Hạ tầng cơ sở kỹ thuật - công nghệ
Thương mại điện tử là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hoá
và công nghệ thông tin mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì vậy,
TMĐT thực sự có vai trò và hiệu quả đích thực khi đã có một hạ tầng cơ sở
kỹ thuật - công nghệ thông tin vững chắc. Hạ tầng cơ sở kỹ thuật - công nghệ
ấy bao gồm các chuẩn của DN, của cả nước và sự liên kết của các chuẩn ấy
với các chuẩn quốc tế, kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng dụng và không chỉ
của riêng từng DN mà phải là một hệ thống quốc gia với tư cách như một
phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin khu vực và toàn cầu (trên nền tảng
của Internet hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm cả các phân mạng, hệ
thống liên lạc viễn thông toàn cầu), hệ thống ấy phải tới được từng cá nhân
trong hệ thống thương mại (cho tới từng cá nhân người tiêu dùng). Cùng với
đó, hạ tầng cơ sở công nghệ của TMĐT còn phải bảo đảm tính kinh tế, nghĩa
là chi phí của hệ thống thiết bị kỹ thuật và chi phí dịch vụ truyền thông phải ở
mức hợp lý để bảo đảm cho các tổ chức và cá nhân đều có khả năng chi trả và
bảo đảm giá cả của các hàng hoá dịch vụ thực hiện thông qua TMĐT không
cao hơn so với thương mại truyền thống.
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Trương Quang Dũng
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại điện tử của
doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập
Phát triển thương mại nói chung là hoạt động hết sức quan trọng để
giúp các quốc gia có điều kiện để phát triển sản xuất xã hội và tăng cường khả
năng hợp tác với nước ngoài. Từ nhiều năm nay, Đảng ta đã chủ trương phát
triển thương mại trong nước cũng như thương mại với nước ngoài để tạo tiền
đề cho hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế.
Để thực hiện chủ trương trên, Chính phủ đã tạo mọi điều kiện để các
DN có thể ứng dụng hiệu quả các phương thức kinh doanh thương mại, đặc
biệt là phương thức kinh doanh TMĐT. Tuy nhiên, các DN Việt Nam thực
hiện các phương thức kinh doanh thương mại nói chung và TMĐT nói riêng
trong điều kiện quốc tế và trong nước diễn biến phức tạp, thuận lợi và thách
thức đan xen.
1.4.1. Các nhân tố quốc tế
Trong điều kiện thế giới đang có những thay đổi rất lớn về kinh tế,
chính trị và khoa học công nghệ, việc nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng
phương thức kinh doanh thương mại điện tử sẽ phải chịu ảnh hưởng của
những nhân tố sau:
1.4.1.1. Toàn cầu hóa
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế khu vực và quốc tế đang
diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Toàn cầu hóa thực chất là một quá trình
quốc tế hóa kinh tế đã phát triển đến quy mô toàn cầu và bao gồm trong nó
hai quá trình phát triển song song là tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế.
Đặc trưng chủ yếu của toàn cầu hóa là:
Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xóa bỏ
theo các cam kết đa phương.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét