Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Kinh tế thương mại VN- Singapore

ngời khác. Cơ cấu dân c của Singapore đã có biến đổi đáng kể do ảnh hởng của
những biến cố trong lịch sử phát triển. Năm 1824 với số dân 10.683; ngời Malaysia
chiếm 60%; ngời Trung Hoa chiếm 31%. Sự thống trị của ngời Anh đối với
Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông đã tạo điều kiện cho ngời nhập c Trung Quốc
làm thay đổi cơ cấu dân c của nớc này
4
.
Tỷ lệ nam nữ trong cơ cấu dân c của Singapore hiện nay xấp xỉ bằng nhau và
ngày càng có xu hớng cân bằng. Năm 1995 tỷ lệ nam/ nữ là 1,013 đến năm 1999
con số này là 1,006 (theo Uỷ ban Thống kê của Singapore), cùng với sự phát triển
của dân số (trung bình khoảng 1,9%/năm thời kì 1995-2000) mật độ dân số của
Singapore hiện nay là 5.900ngời/km
2
. Tuổi thọ của ngời dân Singapore ở mức cao
trên thế giới; năm 1999 tuổi thọ của nam công dân Singapore là 75,6 năm và 79,6
năm đối với nữ
5
.
2.2. Đặc điểm ngôn ngữ và tôn giáo
Ngôn ngữ chính của Singapore là tiếng Malaysia, tiếng Trung Quốc phổ thông,
tiếng Anh và tiếng Tamil. Tiếng Malaysia là ngôn ngữ quốc gia và tiếng Anh là
tiếng sử dụng trong công sở. Tiếng Anh đóng vai trò nh một ngôn ngữ làm việc,
giúp ngăn chặn những xung đột nảy sinh giữa các sắc tộc với nhau và đã đem lại
cho Singapore u thế cạnh tranh, vì đó là ngôn ngữ giao dịch, đàm phán và là ngôn
ngữ của khoa học, kỹ thuật quốc tế. Đại bộ phận dân chúng Singapore ngày nay
thông thạo cả hai thứ tiếng: tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ. Với một nền giáo dục khá
hoàn chỉnh, Singapore có tỷ lệ dân biết đọc biết viết tính từ 10 tuổi trở lên cũng đạt
tới 92%.
Singapore là quốc gia đa tôn giáo, chủ yếu là đạo Phật, Khổng chiếm 53,8%
trong khối ngời Hoa; đạo Thiên chúa 12,9%; đạo Islam 14,9% và đạo Hindu 3,3%.
ở Singapore, không một tôn giáo nào đợc coi là quốc giáo
6
.
4
Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/
5
Tài liệu đã dẫn
66
Tài liệu đã dẫn
5
Khoá luận tốt nghiệp
3. Hệ thống chính trị, pháp luật
Sau khi đợc thực dân Anh trao trả quyền tự trị cho Singapore (năm 1959) tháng 9
năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Malaysia. Có nhiều bất đồng cơ bản về
chính sách đã nảy sinh giữa Singapore và chính quyền liên bang. Ngày 9/8/1965,
Singapore đã tách ra thành một quốc gia độc lập.
Singapore là nớc cộng hoà với hệ thống chế độ đại nghị của Chính phủ. Tổ chức
của nhà nớc - cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp, và cơ quan t pháp do hiến pháp
quy định. Đứng đầu nhà nớc là Tổng thống; bộ máy chính phủ gồm Nội các, đứng
đầu Nội các là Thủ tớng. Thủ tớng và các thành viên Nội các đợc chỉ định bởi Tổng
thống và do các thành viên của Quốc hội cử. Nội các chịu trách nhiệm tập thể trớc
Quốc hội.
Quốc hội (Nghị viện) Singapore với nhiệm kỳ 5 năm đợc bầu ra từ 2 loại đơn vị
bầu cử: đơn vị loại thành viên và đơn vị loại đại diện (GRC
s
: Group Representation
Constituencies). Những ứng cử viên thuộc các đơn vị bầu cử loại đại diện (GRC
s
) là
ngời gốc Malay, gốc ấn Độ hoặc nhóm các dân tộc thiểu số khác nhằm đảm bảo
nghị viện phản ánh đợc tính chất đa chủng tộc của xã hội Singapore. Cuộc bầu cử
lần thứ 9 tổ chức vào 02/01/1997 đã bầu ra 83 thành viên trong đó 81 thành viên là
ngời của Đảng Nhân dân Hành động PAP (People's

Action Party); 1 thành viên của
đảng nhân dân Singapore (Singapore People's Party) và ngời còn lại của đảng Công
nhân (Workers' Party).
Từ năm 1992, hiến pháp Singapore mới bổ sung yêu cầu về chức vụ tổng thống.
Tổng thống đợc bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kì 6 năm, tổng thống có
quyền cao hơn cả thủ tớng, chẳng hạn tổ chức các cuộc điều tra tham nhũng đối với
chính thủ tớng và các bộ trởng Cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên đợc tổ chức vào
28/08/1993. Ông Ong Teng Cheong đã đợc bầu. Ngày 18/8/1999, ông S.R Nathan
đã thắng cử trong lần bầu cử tổng thống thứ 2 của cộng hoà Singapore; cùng điều
hành đất nớc với chính phủ của thủ tớng Goh Chok Tong và đảng cầm quyền PAP
7
.
7
Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/
6
Khoá luận tốt nghiệp
Đảng nhân dân hành động PAP cầm quyền từ trên 30 năm nay và vẫn tiếp tục
giữ vị trí thống trị. Lãnh tụ trớc đây của PAP là ông Lý Quang Diệu, thủ tớng đầu
tiên của Singapore từ năm 1959 - 1990; và hiện nay chủ tịch đảng là ông Goh Chok
Tong thủ tớng đơng nhiệm của Singapore. Cùng tồn tại với PAP còn có khoảng 20
đảng phái khác nh Đảng công nhân, Đảng dân chủ, Đảng cộng sản, song thế lực
của các đảng phái đối lập rất yếu, không có khả năng thách thức đảng PAP cầm
quyền.
Hệ thống luật pháp ổn định, chặt chẽ, nghiêm ngặt đợc xếp vào loại tốt và hoàn
chỉnh nhất khu vực châu á; bảo đảm cho mọi hoạt động kinh tế xã hội đợc duy trì,
ổn định và đợc điều chỉnh trong khuôn khổ luật pháp, tạo sự hấp dẫn, yên tâm cho
các nhà kinh doanh, đầu t trong và ngoài nớc.
Xây dựng một chính phủ trong sạch là mục tiêu mà nhà nớc Singapore đã theo
đuổi và thực hiện khá thành công. CPIB - Ban điều tra hành vi tham nhũng là cơ
quan trọng yếu giúp chính phủ Singapore trong việc làm sạch bộ máy nhà nớc.
Niên giám Cạnh tranh Thế giới năm 1997 của Viện Phát triển Quản lý sắp xếp theo
thứ hạng cho các quốc gia ít tham nhũng nhất trên toàn thế giới, cho điểm 10 đối
với quốc gia nào không có nạn tham nhũng và Singapore đợc xếp vào hàng ngũ các
quốc gia ít tham nhũng nhất trong khu vực châu á với điểm số 9,18 trớc Hồng
Kông, Nhật Bản và Đài Loan. Transparency International (đặt tại Berlin) xếp
Singapore đứng thứ 7 trên thế giới năm 1998 cho thành tích "vắng mặt tham
nhũng". Hệ thống luật pháp đợc đánh giá nhất thế giới căn cứ vào tiêu chuẩn hệ
thống pháp luật hỗ trợ đắc lực cho phát triển kinh tế, là một sự khẳng định cho
những cố gắng không ngừng về hoàn thiện pháp luật của chính phủ Singapore
8
.
II. Nền kinh tế Singapore trong những năm qua
1. Thành tựu trong phát triển kinh tế của Singapore
Singapore là một mẫu mực cho quá trình phát triển nhờ tạo dựng một nền công
nghiệp quốc gia trên cơ sở đầu t của các tổ chức đa quốc gia. Sau hơn ba thập kỉ
8
Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng, Lịch sử Singapore 1965 - 2000, Nhà xuất bản trẻ, T6/2001
7
Khoá luận tốt nghiệp
thực hiện những chính sách quản lý kinh tế Singapore đã đạt đợc nhiều thành tựu kì
diệu gây không ít ngạc nhiên đối với thế giới. Từ một nền kinh tế mà thu nhập chủ
yếu dựa vào buôn bán chuyển khẩu, chỉ trong một thời gian ngắn, quốc gia nhỏ bé
này đã vơn lên thành một nớc có nền công nghiệp chế biến - chế tạo hiện đại cùng
với một hệ thống dịch vụ thơng mại tài chính và du lịch hấp dẫn, có sức cạnh tranh
vào bậc nhất trên thế giới. Sự thành công về kinh tế đã mở đờng cho Singapore bớc
vào danh sách các nớc thành viên của NIEs châu á vào đầu thập niên 80 và là quốc
gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam á đợc OECD xếp vào hàng ngũ các nớc phát
triển (năm 1996). Singapore vẫn đang làm việc cật lực, hoạch định và ứng biến
nhằm củng cố địa vị là một quốc gia có khả năng liên kết mậu dịch, đầu t với các n-
ớc công nghiệp hàng đầu, và là một trung tâm phân phối hàng hoá, dịch vụ, thông
tin thành công trong khu vực và trên thế giới.
1.1. Singapore - trung tâm lọc dầu
Cuối thập niên 70, ngành công nghiệp dầu đã phát triển thành công công nghiệp
hoá dầu. Từ chỗ chỉ là kho chứa, trạm buôn bán và trung chuyển xăng dầu, vào thập
niên 90, với tổng năng suất tinh chế 1,2 triệu thùng mỗi ngày, Singapore đã trở
thành trung tâm tinh chế dầu đứng thứ 3 trên thế giới sau Houston và Rotterdam,
trung tâm thơng mại dầu đứng thứ 3 trên thế giới sau New York và London, và là
thị trờng nhiên liệu xăng dầu lớn một về số lợng trên thế giới. Từ năm 1993, tại hòn
đảo bé này có tới 18 nhà máy lọc dầu với sự có mặt của hầu hết các hãng dầu
khổng lồ BP, ESO, Shell, Caltex, Mobil, British Petroleum với công suất lọc dầu
trên một triệu thùng một ngày.
Trong thập kỉ 70, ngành công nghiệp lọc dầu Singapore rất phát đạt nhng từ giữa
những năm 80 hoạt động của ngành này có giảm sút. Từ chỗ chiếm 20% - 25%
tổng giá trị xuất khẩu giảm xuống còn tơng ứng là 15% - 16% vào năm 1989.
Nguyên nhân là do tính thiếu ổn định của thị trờng xăng dầu thế giới và do các nớc
láng giềng nh Malaysia và Indonesia cũng xây dựng cơ sở để cạnh tranh. Tuy nhiên
từ năm 1993 trở lại đây, ngành lọc dầu của Singapore đang dần dần lấy lại phong
độ và đang có chiều hớng phát triển tốt.
8
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 1.1: Ngoại thơng Singapore
T6/02 T7/02 T8/02 T6/02 T7/02 T8/02
Đơn vị: triệu S$
Tăng giảm so với cùng kỳ
năm trớc (%)
Tổng thơng mại
36.746 38.347 37.254 2,2 9,9 6,6
Xuất khẩu
18.503 19.774 19.307 0,2 13,2 9,2
Xuất khẩu nội địa 9.483 10.667 10.381 -1,0 14,5 9,4
Dầu 1.718 1.998 1.778 -3,2 5,3 -10,6
Sp khác 7.745 8.669 8.603 -0,6 16,8 14,7
Tái XK 9.040 9.107 8.926 1,6 11,8 9,0
Dầu 262 266 192 274,3 421,6 82,9
Sp khác 8.778 8.841 8.734 -0,6 9,2 8,1
Nhập khẩu
18.243 18.573 17.947 4,2 6,6 3,9
Dầu 2.569 2.472 2.342 8,4 -4,8 -9,7
Sp khác 15.674 16.146 15.605 3,5 8,6 6,3
* Nguồn:
http://www.iesingap
1.2. Singapore - trung tâm chế tạo và lắp ráp các đồ điện tử
Chính sách đổi mới công nghệ, thu hút đầu t nớc ngoài vào các ngành kĩ thuật
cao đợc thi hành vào cuối những năm 70 đã làm bùng nổ công nghệ điện tử - bán
dẫn và vi mạch điện tử tại Singapore, biến nơi đây trở thành trung tâm sản xuất và
lắp ráp các mặt hàng nh ti vi, máy vi tính lớn nhất Đông Nam á. Những u thế trong
chính sách đầu t đã giúp Singapore thu hút đợc các công ty hàng đầu thế giới nh:
Sony, Sharp, Philips, Hewlett-packard, Compaq, Texas Instruments, Motorola,
Aiwa và Siemens, vào các lĩnh vực mũi nhọn với công nghệ tiên tiến. Theo thống
kê hàng điện tử chiếm tới 50% giá trị của khu vực chế tạo, đóng góp tới 22% sản
phẩm quốc nội GDP của Singapore
9
. Kim ngạch xuất khẩu điện tử của Singapore
chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Từ thập kỷ 90, sản lợng công nghiệp điện tử
của Singapore là 5,2% tỷ trọng của cả thế giới và tỉ trọng đó hầu nh không thay đổi
trong những năm gần đây
10
.
Hiện nay trớc xu hớng phát triển kinh tế tri thức của nền kinh tế thế giới, với
những lợi thế về khoa hoc kĩ thuật, Singapore đã tỏ ra rất năng động trong việc chú
trọng đầu t phát triển các ngành công nghệ cao. Singapore đã chuyển dần cơ cấu từ
9
Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dơng số1 (31) T2/2002
10
Korea Focus số 7/8/2000
9
Khoá luận tốt nghiệp
các dây chuyền chế tạo đòi hỏi tay nghề thấp sang các quá trình sản xuất tiên tiến
gồm cả R&D (nghiên cứu phát triển) và chế tạo trọn gói hàng điện tử. Vừa qua
công ty máy tính khổng lồ Hewlett-Packark của Mỹ, một trong những nhà đầu t n-
ớc ngoài đầu tiên của Singapore (từ năm 1968), đã khai trơng một nhà máy sản xuất
lát bán dẫn trị giá 100 triệu USD. Đây là nhà sản xuất lát bán dẫn thứ hai của
Hewlett-Packark tại Singapore, sẽ sản xuất lát bán dẫn silicon đợc sử dụng trong
ngành phun mực của máy in vi tính. Nhà máy này sẽ mang lại 2 tỷ S$ (1,1 tỷ USD)
cho Singapore vào năm 2004. Tháng 4/2000, nhà máy sản xuất Lycra, một loại
nguyên liệu hoá học tổng hợp cao cấp dùng trong nhiều ngành chế tạo của tập đoàn
Dupont (Mỹ) đã đợc khai trơng tại Singapore
11
.
1.3. Singapore - trung tâm dịch vụ thơng mại thế giới
Với vị trí cực kỳ xung yếu trên tuyến đờng biển từ đông sang tây, Singapore
ngay từ thời còn thuộc quyền cai trị của thực dân Anh đã sớm đợc xem là trạm
trung chuyển hàng hoá lớn nhất khu vực. Phát huy u thế đó, chính phủ Singapore đã
biến dịch vụ buôn bán chuyển khẩu ở nơi đây trở thành trung tâm dịch vụ thơng
mại quốc tế.
Khi mới giành độc lập dân tộc, nền kinh tế do lịch sử để lại có cơ cấu thiên về
các hoạt động kinh tế buôn bán chuyển khẩu và dịch vụ tái xuất khẩu. Đây là hoạt
động đem lại phần lớn nguồn thu nhập cho quốc gia. Cùng với sự hình thành và
phát triển một loạt các ngành công nghiệp có hàm lợng kĩ thuật cao, một tỷ lệ lớn
trong xuất khẩu trực tiếp đã dần thay thế cho mậu dịch quá cảnh. Năm 1960, hàng
tái xuất chiếm 90% giá trị kim ngạch xuất khẩu còn hàng xuất khẩu trực tiếp chiếm
10%. Đến năm 1991, hàng tái xuất giảm nhiều trong khi đó hàng xuất khẩu trực
tiếp lại tăng nhanh, năm 1998 hàng tái xuất chiếm khoảng 50% kim ngạch xuất
khẩu. Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp (xuất khẩu nội địa) của Singapore ra thị trờng
thế giới tháng 07/2000: 10.667 triệu S$ và tháng 08/2002: 10.381 triệu S$
12
. Mang
đặc điểm là một nền kinh tế "hớng ngoại", đây là đầu cầu trung chuyển lớn hàng
hoá trong khu vực và sang các nớc khác trên thế giới, nó không bị hạn chế và
11
Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dơng số 2 (37) T2/2002
12
Báo cáo tổng quan thị trờng Singapore, Vụ Châu á Thái bình dơng, Bộ Thơng mại
10
Khoá luận tốt nghiệp
không gò bó về cơ cấu xuất khẩu của thị trờng nội địa với sự tham gia của nhiều
công ty đa quốc gia có năng lực tài chính hùng mạnh; Singapore là một thị trờng
lớn, mặt hàng đa dạng từ hàng công nghiệp kĩ thuật cao đến nguyên liệu nông, lâm,
khoáng sản thô, thủ công mỹ nghệ đều có thể kinh doanh cho nhiều mục đích
khác nhau nh chế biến tại chỗ, tái xuất, chuyển khẩu. Tuy nhiên, Singapore tập
trung xuất nhập khẩu vào một số hàng có thế mạnh nh cơ khí, điện tử, tin học, hoá
chất, thực phẩm chế biến. Năm 1998, kim ngạch các mặt hàng này chiếm tới 73%
kim ngạch xuất khẩu, đạt 134,4 tỷ S$. Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này
cũng chiếm 62% kim ngạch nhập khẩu, đạt 122,6 tỷ S$. Một khối lợng lớn các sản
phẩm từ Malaysia, Indonesia và các nớc trong khu vực (chủ yếu là: gạo, cà phê, cao
su, hạt tiêu, hải sản, thủ công mỹ nghệ) vận chuyển quá cảnh qua các kho cảng của
Singapore trớc khi gửi đi các thị trờng Âu, Mỹ hay Trung Quốc. Thêm vào đó là
một số hàng công nghiệp từ Châu Âu, vải lụa từ ấn Độ, Trung Quốc đợc Singapore
nhập vào rồi lại xuất khẩu đi khắp Châu á
13
.
Với những hoạt động xuất khẩu nh "chiếc bàn quay" giữa phơng Tây và phơng
Đông, đặc biệt với các bạn hàng lớn nh Mỹ, Nhật, EU, Malaysia, Đài loan
Singapore liên tục đợc xếp trong 10 nớc đứng đầu thế giới về tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu trong những năm gần đây.
1.4. Singapore - trung tâm dịch vụ hàng hải, cảng biển quốc tế
Nằm ở cuối cực Nam của eo biển Malacca nên Singapore đã trở thành điểm án
ngữ chiến lợc trên con đờng buôn bán bằng đờng bằng đờng biển giữa ấn Độ Dơng
và Thái Bình Dơng; giữa Đông Nam á hải đảo và Đông Nam á lục địa. Tận dụng
lợi thế này, cơ quan cảng Singapore (PSA) thành lập năm 1964 đã biến đổi cảng
Singapore thành một trong những cảng tốt nhất thế giới. Từ chỗ chỉ có vài ba cảng
nhỏ với đội tầu biển vài chục chiếc, đến năm 1998, đội tầu buôn của Singapore đã
lên đến 3.412 chiếc, tổng trọng tải là 22.025 triệu tấn (GT); trong đó gần 5 triệu tấn
là chuyên dùng chở dầu. Cảng Singapore là một trong ba cảng lớn nhất thế giới về
năng lực thông qua và lớn thứ ba thế giới về bốc rót dầu, với 26 cầu cảng container
13
Tài liệu đã dẫn
11
Khoá luận tốt nghiệp
bốc xếp đợc 50 triệu TEU vào năm 2000. Ngoài ra cảng Singapore còn cung cấp
hàng loạt dịch vụ hàng hải nh: hoa tiêu, tầu kéo, cung ứng nhiên liệu, kiểm tra miễn
phí ga và nớc, lu kho, cung cấp vật dụng cần thiết cho tầu. Toàn bộ hệ thống cảng
biển của Singapore hiện nay đã đợc tự động hoá trong bốc dỡ hàng hoá cũng với
một hệ thống đa hàng bằng điện toán điều khiển từ xa. Điều này giúp cảng có thể
tiếp nhận 800 tầu vào bốc xếp cùng lúc; mỗi năm tiếp nhận đợc 140.922 lợt tầu.
Riêng năm 1998, bốc xếp đợc 858 triệu tấn. Cảng Singapore còn là một trong
những trung tâm chế tạo và sửa chữa tầu hàng năm tiếp nhận khoảng 2.500 đến
3.000 chiếc tầu đến sửa chữa
14
.
Singapore đã xây dựng cảng container đầu tiên ở Đông Nam á, và trong nhiều
năm qua đã cố gắng biến Terminal Tanjong Pagon thành một trong những Terminal
hữu hiệu nhất thế giới. Chơng trình mở rộng cảng container Pasin Paijang có tổng
vốn đầu t là 7 tỷ USD, hoàn thành vào năm 2002 sẽ càng nâng cao vai trò và chức
năng của cảng Singapore thành hải cảng trung tâm trung chuyển của khu vực. Với
diện tích kho có mái che 500.000 m
2
và 1,5 triệu m
2
bãi container, kho ngoài trời;
cảng thu hút 400 hãng tầu hoạt động, nối với 700 cảng biển khắp nơi trên thế giới.
Mời một năm liên tục cảng Singapore đợc Hiệp hội Hàng hải Quốc tế xếp là cảng
tốt nhất khu vực Châu á
15
.
1.5. Singapore - trung tâm dịch vụ hàng không quốc tế
Một trong những thành tựu nổi bật của kinh tế Singapore là sự phát triển hoàn
hảo của hệ thống dịch vụ (giao thông vận tải, bu điện viễn thông, du lịch ) trong
đó ngành dịch vụ vận chuyển hàng không là ngành đợc phát triển một cách toàn
diện với quy mô lớn, công nghệ hiện đại và đang có sức cạnh tranh bậc nhất trên
thế giới.
Chính sách "Bầu trời mở" do cục hàng không dân dụng Singapore (Civil Aviation
Authority Singapore - CAAS) thi hành một cách tích cực trong hơn hai thập kỉ qua
đã biến hòn đảo này trở thành đầu mối vận chuyển và dịch vụ hàng không quốc tế;
đồng thời làm cho ngành hàng không dân dụng nớc này trở thành một trong những
14
Tổng quan thị trờng Singapore, Vụ Châu á Thái bình dơng, Bộ Thơng mại
15
Tổng quan thị trờng Singapore - Vụ Châu á Thái bình dơng - Bộ Thơng mại
12
Khoá luận tốt nghiệp
ngành kinh tế mũi nhọn, làm ăn có hiệu quả và có sức cạnh tranh tốt nhất trên thế
giới. Với một diện tích nhỏ hẹp khoảng 647,5 km
2
, Singapore có tới 4 sân bay lớn
nhỏ trong đó có Changi Air Port là niềm tự hào của ngời dân Singapore. Sân bay
Changi khi mở cửa vào tháng 7 năm 1981 là sân bay lớn nhất châu á; nó đã giúp
Singapore trở thành sân bay trung tâm của khu vực. Từ Changi Airport có 65 hãng
hàng không hoạt động trên 151 tuyến bay nối với 51 quốc gia/ khu vực; thực hiện
gần 90.000 chuyến bay mỗi năm (số liệu đến năm 1998)
16
. Ngoài Changi Airport,
phi trờng Seletar cũng khá nổi tiếng với các dịch vụ thuê phi cơ và các hoạt động
hàng không tổng quát.
Một trong những thành tích nổi bật của ngành hàng không Singapore là sự vơn
lên của hãng hàng không Singapore SIA (Singapore Air Lines). Đợc thành lập vào
ngày 01/10/1972 với khẩu hiệu hành động "Khách hàng trớc tiên, chất lợng trớc
tiên", SIA đã trở thành một trong những tập đoàn hàng không có chất lợng phục vụ
tốt nhất và có lãi nhiều nhất trên thế giới. Tháng 5/1989, SIA là hãng hàng không
đầu tiên trên thế giới có các chuyến bay thơng mại bằng máy bay Boeing 747 bay
thẳng từ Singapore đến London mà không phải dừng lại ở bất cứ nơi nào thuộc châu
á hoặc châu Âu. Đến năm 1996, SIA đã có một trong những phi đội Boeing và
Airbus lớn nhất và hiện đại nhất châu á, đã bay đến hầu hết các lục địa. Do phong
cách phục vụ lịch thiệp, chu đáo, chính xác, an toàn và giá vé rẻ nên tháng 2/1994
SIA đã đợc nhận "Giải thởng 20 năm phục vụ hoàn hảo" của Tạp chí hàng không
Thế giới trao tặng
17
.
Để gia tăng sức cạnh tranh của mình trong một môi trờng quốc tế đầy sôi động,
những năm gần đây tập đoàn SIA đã đẩy mạnh tốc độ hợp tác và liên kết đầu t với
những hãng hàng không và ngành hàng không của nhiều nớc trên thế giới.
Singapore đã ký hiệp định hàng không với 90 quốc gia và khu vực trên thế giới. ở
Việt Nam, SIA có mặt từ nhiều năm nay. Tháng 1/1995, SIA khai trơng chuyến bay
hàng ngày đến TP Hồ Chí Minh, sau đó 3 năm SIA mỗi tuần có 2 chuyến bay đến
Hà nội. Từ năm 1992, SIA đã giúp Việt Nam đào tạo cán bộ quản lý cho Hãng
16
Tài liệu đã dẫn
17
TS. Nguyễn Thị Hiền, Hội nhập kinh tế khu vực của một số nớc ASEAN, NXB chính trị quốc gia, 2002
13
Khoá luận tốt nghiệp
hàng không Việt Nam. Từ tháng 8 năm 1994, SIA đã đầu t liên doanh với Hãng
hàng không Việt Nam về xây dựng trạm dịch vụ vận chuyển hàng hoá tại sân bay
Tân Sơn Nhất
18
.
1.6. Singapore - trung tâm dịch vụ viễn thông
Ngành dịch vụ viễn thông của Singapore trong khoảng một thập kỷ trở lại đây
phát triển một cách rầm rộ kể cả về các hình thức dịch vụ cũng nh các tốc độ kỹ
thuật. Hiện nay dịch vụ viễn thông tại nớc này có giá cớc rẻ vào bậc nhất thế giới.
Singapore là nớc đầu tiên ở Đông Nam á có trạm vệ tinh hàng hải mặt đất, có thể
liên lạc với tổ chức vệ tinh hàng hải Quốc tế Immarsast. Ngành thông tin viễn thông
cung cấp dịch vụ trên 14.000 đờng truyền quốc tế; đờng cáp viễn thông ngầm qua
biển tới khắp thế giới với trình độ kỹ thuật cao. Trong nỗ lực duy trì vị thế của một
trong mời nớc hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin và trở thành quốc gia số 1 ở
châu á về cơ sở hạ tầng và kinh doanh điện tử, Singapore còn phấn đấu trở thành
"Một trung tâm thơng mại điện tử toàn cầu đáng tin cậy". Đầu năm 2000, Singapore
đã thông báo những sáng kiến về Inforcomm 21 trong đó chú trọng đến thị trờng
viễn thông tạo điều kiện để mọi ngời dân Singapore đợc sử dụng mạng Internet.
Chính phủ đã khuyến khích và giúp đỡ các doanh nghiệp, ngời dân đẩy mạnh kết
nối sử dụng Internet vào kinh doanh; và đã chi 30 triệu đô la Singapore cho mục
đích này
19
.
Chính nhờ có hệ thống dịch vụ viễn thông hiện đại và giá cớc rẻ nên nhiều công
ty thế giới đã chọn Singapore làm trụ sở của họ để thiết lập các đầu mối thông tin
và dữ liệu cho hoạt động kinh doanh ở khu vực châu á Thái Bình Dơng. Singapore
dự tính đến năm 2020 trở thành một đất nớc hoàn toàn vi tính hoá với một kế hoạch
đầy tham vọng thông minh hóa xã hội. Từ năm 1989, Singapore đã xây dựng và vận
hành hiệu quả hệ thống điện tử Tradenet để làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá.
Thực chất đây là một mạng máy tính nối liền giữa các cơ quan quản lý thủ tục nhà
nớc về xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp và đợc nối mạng với một số nớc khác,
cho phép các công ty hoàn tất toàn bộ thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu qua
18
Tài liệu đã dẫn
19
Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dơng, số 1(30) T2/2001
14
Khoá luận tốt nghiệp

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét