Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tăng cường huy động vốn tại các tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ- con tại Việt Nam

phẩm, nh hoạch định chiến lợc, công tác tài chính, vốn đầu t, công tác đối ngoại,
thị trờng
- Công ty mẹ chi phối, liên kết bằng công nghệ. Theo đó, công ty mẹ thuờng
là các trung tâm nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, công ty con là các đơn
vị sản xuất kinh doanh thực hiện ứng dụng các kết quả nghiên cứu của công ty mẹ
để phát triển sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty con.
Từ khái niệm và các hình thức liên kết nêu trên, ta có thể rút ra những đặc tr-
ng cơ bản của việc tổ chức hoạt động của tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty
mẹ-công ty con nh sau:
- Về cơ cấu tổ chức: công ty mẹ và các công ty con là các pháp nhân độc lập,
bình đẳng trớc pháp luật về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các khoản
nợ trong phạm vi số vốn góp của mình vào vốn điều lệ. Tỷ lệ vốn góp, vốn cổ phần
của công ty mẹ vào công ty con qui định mức độ chi phối, liên kết giữa công ty mẹ
và các công ty con. Tuy nhiên, từ cơ sở nắm giữ tỷ lệ vốn chi phối, thông thờng
công ty mẹ nắm giữ quyền quyết định trên các mặt đối với công ty con là: quyết
định chiến lợc, mục tiêu sản xuất kinh doanh, quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các
chức danh chủ chốt và quyền quyết định nội dung và sửa đổi điều lệ đối với công
ty con. Sự liên kết giữa công ty mẹ và công ty con nh vậy sẽ tạo thành một tổ hợp
các pháp nhân doanh nghiệp hoạt động theo những chiến lợc phát triển chung nhất
định và là cơ sở để hình thành các tập đoàn kinh tế lớn hơn sau này.
- Về cơ chế vận hành: cũng giống nh cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành giữa
công ty mẹ và công ty con đợc thể hiện thông qua tỷ lệ vốn góp, quyền quản lý tài
sản của công ty mẹ đối với công ty con. Ngoài việc quản lý, vận hành tài sản của
chính mình, công ty mẹ thực hiện quản lý phần tài sản hình thành bằng vốn góp
chi phối của mình đối với công ty con, trên cơ sở đó công ty mẹ thực hiện quyền,
nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với phần vốn đầu t vào các công ty con và công ty
liên kết. Trên cơ sở đó, tạo ra nhiều mối liên kết với mức độ khác nhau tuỳ thuộc
vào sự chi phối thông qua tỷ lệ đầu t tài sản của công ty mẹ đối với công ty con, có
thể là liên kết chặt chẽ, hay nửa chặt chẽ, hay lỏng lẻo. Công ty mẹ thực hiện
5
quyền và nghĩa vụ của mình tại công ty con bằng cách cử đại diện của mình vào
hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên của công ty con. Các công ty con trong
những điều kiện cho phép có thể góp tài sản của mình để hình thành các công ty
con khác gọi là công ty cháu.
2/ Sự cần thiết phải tăng cờng huy động vốn và cơ chế huy động vốn
trong tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con
2.1/ Khái niệm cơ chế huy động vốn
Cơ chế huy động vốn là một trong những nội dung của cơ chế quản lý vốn
trong doanh nghiệp. Do đó, để hiểu thế nào là cơ chế huy động vốn, trớc hết chúng
ta cần phải hiểu các khái niệm về cơ chế quản lý tài chính, cơ chế quản lý vốn.
Cơ chế quản lý có thể đợc hiểu là cách thức, công cụ mà chủ thể quản lý sử
dụng để tác động lên đối tợng quản lý nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra.
Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp đợc hiểu là toàn bộ các phơng
pháp, hình thức và công cụ đợc áp dụng để quản lý các hoạt động tài chính của
doanh nghiệp nhằm đạt đợc những mục tiêu nhất định trong từng thời kỳ.
Còn cơ chế quản lý vốn đối với doanh nghiệp là tập hợp các phơng pháp, hình
thức và công cụ đợc áp dụng để quản lý quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn
vốn nhằm đạt đợc các mục tiêu nhất định trong từng thời kỳ. Nội dung chủ yếu cơ
chế quản lý vốn bao gồm: các hình thức, công cụ và giải pháp huy động vốn; điều
hoà vốn trong tập đoàn; quản lý nguồn vốn khấu hao; xác định cơ cấu vốn tối u.
Từ đó, có thể hiểu cơ chế huy động vốn của tập đoàn kinh tế hoạt động theo
mô hình công ty me-công ty con là tổng thể các hình thức, giải pháp và công cụ đ-
ợc áp dụng để huy động các nguồn vốn cho hoạt động của tập đoàn kinh tế nhằm
đạt đợc những mục tiêu nhất định trong từng thời kỳ.
2.2/ Sự cần thiết phải tăng cờng huy động vốn và cơ chế huy động vốn đối
với tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty me-công ty con
6
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một yếu tố quan trọng hành đầu,
không thể thiếu đợc đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, đặc biệt đối với các tập
đoàn kinh tế. Do các tập đoàn kinh tế có qui mô sản xuất kinh doanh lớn, phạm vi
hoạt động rộng, đa ngành nghề nên nhu cầu về nguồn vốn cho hoạt động sản suất
kinh doanh là rất lớn. Do đó, vấn đề quan trọng đặt ra cho nhà quản lý các tập
đoàn kinh tế là vốn: huy động từ những nguồn nào, cách thức ra sao và bằng
những công cụ tài chính nào để có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động ngày càng phát
triển của các thành viên trong tập đoàn. Việc huy động vốn không những chỉ ảnh
hởng trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong tập
đoàn kinh tế trong ngắn hạn mà còn đối với sự tồn tại và phát triển dài hạn của cả
tập đoàn; không những là công ty mẹ mà bất kỳ một thành viên nào trong tập đoàn
cũng đều phải quan tâm đến vấn đề huy động, quản lý và sử dụng vốn.
Đối với công ty mẹ, việc huy động vốn cho hoạt động có một ý nghĩa rất lớn
trong tập đoàn vì công ty mẹ, ngoài việc thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh
của mình còn thực hiện chức năng đầu t tài chính hay kinh doanh vốn đầu t vào
các thành viên khác trong tập đoàn. Mặt khác, khả năng tài chính của công ty mẹ
phụ thuộc trớc hết vào các nguồn vốn huy động đợc. Do đó, nếu hoạt động huy
động vốn và cơ chế tạo vốn không đáp ứng đợc yêu cầu về tài chính của công ty
mẹ sẽ ảnh hởng trực tiếp đến khả năng chi phối của công ty mẹ đối với các công ty
con thông qua đầu t vốn, dẫn đến trong nhiều trờng hợp hạn chế khả năng mở rộng
hoạt động cũng nh hiệu quả kinh doanh của tập đoàn.
Đối với công ty con, nguồn vốn đợc tài trợ bởi vốn của bản thân công ty con
và vốn đầu t của công ty mẹ. Thông thờng, vốn đầu t của công ty mẹ chiếm tỷ lệ
chi phối. Tuy nhiên, trong thực tế công ty mẹ không có đủ năng lực tài chính để
thoả mãn tất cả các nhu cầu về vốn của các công ty con. Vì vậy, để đáp ứng nhu
cầu về vốn, các công ty con phải tự tìm nguồn vốn bổ sung bằng cách huy động từ
thị trờng tiền tệ và thị trơng vốn.
Nếu xét trên góc độ tổng thể thì hoạt động của tập đoàn kinh tế dựa trên
nhiều mối quan hệ, liên kết đa dạng, giữa công ty mẹ với các công ty con, giữa các
7
công ty con với nhau và với các công ty liên kết cũng nh mối quan hệ giữa các
thành viên tập đoàn với các tổ chức ngân hàng tài chính Thông qua đó thực hiện
quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra thu nhập cho các thành viên trong tập đoàn.
Để có thể quản lý, điều hoà lợi ích trong quá trình hoạt động nhằm đạt hiệu quả
cao, Nhà nớc cần phải thiết lập một hành lang pháp lý để quản lý và bản thân các
thành viên trong tập đoàn cũng phải xây dựng cho mình một cơ chế quản lý riêng
phù hợp với hình thức hoạt động của bản thân. Trong đó, cơ chế huy động vốn
không phải là một ngoại lệ, đòi hỏi công ty mẹ và các công ty con cần quan tâm
đúng mức đối với việc thiết lập một cơ chế huy động vốn nh thế nào để có thể huy
động đợc vốn ở mức chi phí thấp nhất, có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao
nhất tơng ứng với số vốn đã bỏ ra để đầu t.
3/ Các hình thức, công cụ và các nhân tố ảnh hởng đến khả năng huy
động vốn của tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty
con
3.1/ Các hình thức, công cụ huy động vốn
Vốn, cũng nh bất kỳ một loại hàng hoá nào khác, đều có chủ sở hữu đích
thực, ngời sử dụng vốn chỉ nhợng quyền sử dụng vốn với các điều kiện nhất định
(thu phí quyền sử dụng, đợng hởng một số quyền hạn nhất định đối với doanh
nghiệp ). Vốn của tập đoàn kinh tế đợc tạo lập từ nguồn vốn đầu t ban đầu (vốn
sở hữu của công ty mẹ) và vốn bổ sung trong quá trình hoạt động. Đối với các
công ty con trong tập đoàn, vốn ban đầu thờng do công ty mẹ và các chủ sở hữu
khác bỏ ra đầu t khi thành lập doanh nghiệp. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình
hoạt động của công ty mẹ và các công ty con có thể đợc huy động từ nhiều nguồn
khác nhau nh lợi nhuận để lại, từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn tín dụng,
thuê mua tài chính Vốn đợc chu chuyển và giao dịch phục vụ cho nhu cầu sản
xuất kinh doanh và đầu t phát triển của tập đoàn kinh tế thông qua nhiều kênh,
xoay quanh thị trờng vốn. Nh vậy, có thể coi chính sách huy động và sử dụng vốn
là một trong những nội dung quan trọng của chính sách tài chính, có ảnh hởng trực
tiếp đến kết quả hoạt động của tập đoàn kinh tế.
8
Việc đầu t, huy động và quản lý vốn cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản:
xác định tỷ trọng vốn cần huy động phù hợp với khả năng chi trả của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ; xác định hiệu quả sử dụng vốn theo các chỉ tiêu cụ thể:
tỷ suất lợi nhuận/vốn, tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu, thời gian thu hồi vốn, khả năng
tiêu thụ, cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng
Các hình thức huy động vốn của tập đoàn kinh tế phản ánh mối quan hệ về tài
chính giữa công ty mẹ và các công ty con với thị trờng tài chính và giữa công ty
mẹ và các công ty con với nhau. Cơ chế huy động vốn vừa là sản phẩm của cơ chế
quản lý vừa là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của thị trờng vốn. Thị trờng vốn phát
triển mạnh và đa dạng sẽ tạo điều kiện đa dạng hoá các hình thức và các kênh huy
động vốn của tập đoàn kinh tế.
Các hình thức và công cụ huy động vốn đó là:
3.1.1/ Huy động vốn chủ sở hữu
- Góp vốn khi thành lập doanh nghiệp: để có thể tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh, các chủ sở hữu bao giờ cũng phải góp một số vốn nhất định khi
thành lập doanh nghiệp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao
giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu
sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp Nhà nớc, vốn tự có ban đầu đợc nhà nớc đầu t từ ngân
sách Nhà nớc. Theo cơ chế hiện hành, nguồn vốn này có thể xem là nguồn vốn
chủ yếu của các doanh nghiệp nhà nớc. Tại thời điểm thành lập, doanh nghiệp Nhà
nớc đợc Nhà nớc đầu t toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ nhng không thấp hơn
vốn pháp định qui định cho ngành nghề đó.
Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, nguồn vốn do các
thành viên hoặc các cổ đông đóng góp, là điều kiện tiên quyết để thành lập công
ty. Mỗi thành viên (hoặc cổ đông) là một chủ sở hữu công ty theo tỷ lệ vốn góp và
chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn bằng giá trị phần vốn góp (hoặc trị giá cổ phần mà
họ nắm giữ).
9
Ngoài số vốn đầu t ban đầu đã bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp trong tập
đoàn, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu t phát triển, mở rộng qui
mô, các doanh nghiệp có thể thực hiện các hình thức và các công cụ huy động vốn
nh:
- Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu là giấy xác nhận s tham gia góp vốn của một
chủ thể (gọi là cổ đông) vào một công ty, tức là xác định cổ đông có quyền sở hữu
một phần vốn đối với công ty đó theo tỷ lệ phần trăm cổ phiếu của cổ đông đó.
Phơng thức huy động nguồn vốn chủ sở hữu đợc áp dụng phổ biến đối với các
công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng là phát hành cổ phiếu. Về cơ bản cơ
chế phát hành những công cụ tài chính này đối với các tập đoàn kinh tế là giống
nhau. Phát hành cổ phiếu là quá trình đa ra bán trên thị trờng cổ phiếu để huy
động vốn. Ngời mua cổ phiếu đợc gọi là cổ đông, là ngời đầu t vốn để hình thành
nên vốn tự có của doanh nghiệp. Cổ đông có trách nhiệm và quyền lợi đợc pháp
luật qui định tuỳ theo loại cổ phiếu mà họ nắm giữ nh: chiếm hữu một phần lợi
nhuận dới hình thức lãi cổ phiếu và đợc quyền tham gia quản lý doanh nghiệp.
Những cổ đông cũ đợc quyền u tiên mua cổ phiếu mới theo tỷ lệ cổ phiếu mà hiện
họ đang nắm giữ, có thể với giá thấp hơn giá thị trờng của loại cổ phiếu đó. Cổ
đông không đợc rút vốn ra khỏi doanh nghiệp mà chỉ có thể chuyển nhợng cổ
phiếu trên thị truờng.
Cổ phiếu đợc phát hành theo nhiều loại khác nhau nh: cổ phiếu thờng, cổ
phiếu u đãi:
Cổ phiếu thờng: là loại cổ phiếu không có kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn
tại của công ty phát hành ra nó, không có mức lãi suất cố định. Số lãi đợc chia vào
cuối niên độ quyết toán đợc gọi là cổ tức, cổ tức nhiều hay ít phụ thuộc vào hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp. Cổ phiếu thờng là loại cổ phiếu thông dụng nhất
vì nó có những u thế trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lu hành
trên thị trờng chứng khoán.
Tuy nhiên, khi tiến hành phát hành cổ phiếu thông thờng để huy động nguồn
vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp phải cân nhắc một cách kỹ lỡng về tính pháp lý và
10
tính hiệu quả của nó, vì theo qui định doanh nghiệp phải tuân thủ giới hạn phát
hành cổ phiếu. Giới hạn phát hành là một qui định ràng buộc có tính pháp lý. L-
ợng cổ phiếu tối đa mà công ty đợc quyền phát hành là vốn cổ phiếu đợc cấp phép.
ở Việt nam, đây là một trong những quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc
nhằm quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịch chứng
khoán. Tại một số nớc, số cổ phiếu đợc phép phát hành có thể đợc ghi vào điều lệ
công ty. Nh vậy, muốn tăng vốn cổ phần trớc hết cần phải đợc đại hội cổ đông cho
phép, sau đó phải hoàn thành những thủ tục qui định khác.
Do đó, khi phát hành ra thị trờng cổ phiếu này, đòi hỏi nhà quản lý phải căn
cứ vào một số yếu tố nh: tình hình cân đối vốn và khả năng đầu t, tình hình biến
động thị giá chứng khoán trên thị trờng, chính sách đối với việc sát nhập hay
thông tính công ty, tình hình trên thị trờng chứng khoán và qui định của cơ quan
quản lý liên quan, mệnh giá và thị giá của chứng khoán
Cổ phiếu u đãi: tơng tự nh cổ phiếu thờng nhng có một số hạn chế nhất định
nh cổ đông sở hữu cổ phiếu này không đợc tham gia bầu cử, ứng củ vào Hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát. Ngợc lại, họ đợc u đãi về tài chính theo một mức lãi cổ
phần riêng biệt, có tính cố định hàng năm, đợc u tiên chia lãi cổ phần trớc cổ phiếu
thông thờng và đợc u tiên phân chia tài sản còn lại của doanh nghiệp sau khi thanh
lý, giải thể. Tuy nhiên họ không có lợi gì khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt. Loại
cổ phiếu này thờng do những nhà đầu t muốn có thu nhập ổn định, đều đặn làm
chủ sở hữu. Để tạo nên sự hấp dẫn cho cổ phiếu u đãi và phù hợp với tâm lý của
các nhà đầu t, các doanh nghiệp thờng sử dụng đa dạng các loại cổ phiếu u đãi
khác nhau nh: cổ phiếu u đãi tích luỹ, không tích luỹ, cổ phiếu u đãi có quyền
chuyển đổi thành cổ phiếu thờng, cổ phiếu u đãi có thể chuộc lại
Một điểm quan trọng cần phải chú ý khi phát hành loại cổ phiếu u đãi đó là
khác với lãi tiền vay đợc giảm trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, nhng cổ
tức thì đợc lấy từ lợi nhuận sau thuế nên không đợc giảm trừ khi tính thuế thu
nhập. Đây là một hạn chế của cổ phiếu u đãi.
11
Một vấn đề đặt ra là, khi nào thì các tập đoàn tiến hành phát hành cổ phiếu để
huy động vốn chủ sở hữu và khi nào thì huy động vốn nợ? Điều này đợc lý giải là:
trong sản xuất kinh doanh tuỳ từng loại hình hoạt động, các doanh nghiệp nói
chung và tập đoàn kinh tế nói riêng đều tính toán để cân đối một cách hợp lý giữa
vốn nợ và vốn chủ sở hữu để bảo đảm khả năng thanh toán, cũng cố uy tín tài
chính. Do đó, khi tỷ lệ nợ ở mức thấp, nếu cần vốn thì các công ty thờng chọn
cách phát hành trái phiếu tức là tăng vốn nợ (mà không tăng vốn bằng phát hành
cổ phiếu). Ngợc lại nếu tỷ lệ nợ ở mức cao, đơn vị phải tránh việc tăng thêm tỷ lệ
nợ nên chọn cách phát hành cổ phiếu.
- Nguồn vốn tự bổ sung: tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một phơng thức tạo
nguồn của các tập đoàn kinh tế đợc áp dụng khá phổ biến, nhờ đó các thành viên
trong tập đoàn phát huy đợc nguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào
bên ngoài, nhất là khi có các biến động trên thị trờng tài chính. Ngoài số vốn chủ
sở hữu góp ban đầu khi thành lập doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động, các
doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn có thể tự bổ sung nguồn vốn cho nhu cầu
đầu t của mình bằng các hình thức: tái đầu t thông qua chính sách phân phối cổ tức
và phát hành cổ phiếu nội bộ.
Nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu t từ lợi nhuận để lại. Trong
kế hoạch hàng năm, doanh nghiệp đặt ra mục tiêu tỷ lệ phần trăm vốn tái đầu t cần
đạt đợc nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng. Để làm đợc điều này, đòi
hỏi tập đoàn kinh tế phải hoạt động hiệu quả, phải có một lợng lợi nhuận đủ lớn
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng, phục vụ nhu cầu ngày càng phát triển
của doanh nghiệp. Việc tái đầu t có thể thực hiện bằng cách ghi tăng giá trị sổ
sách của cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ phiếu thông thờng. Trờng hợp thứ nhất,
giá trị danh nghĩa của cổ phiếu tăng sẽ làm tăng thị giá cổ phiếu. Trờng hợp thứ
hai, cổ đông sẽ nhận cổ phiếu thay vì nhận thu nhập của họ dới dạng cổ tức. Đây
là một phơng thức tạo vốn quan trọng và khá hấp dẫn đối với các tập đoàn kinh tế
vì doanh nghiệp sẽ giảm đợc chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài
12
Trong các tập đoàn đa quốc gia, do phạm vi phân bố và hoạt động ở nhiều
quốc gia khác nhau nên các hoạt động khai thác và lu chuyển các nguồn tài chính
nội bộ rất phức tạp và có ý nghĩa quan trọng. Giữa các công ty thành viên với nhau
và công ty mẹ phải thiết lập đợc một hệ thống trao đổi các nguồn tài chính, cho
phép thực hiện các hoạt động lu chuyển, điều hoà vốn trong nội bộ tập đoàn với
chi phí thấp và có hiệu quả cao.
Đối với doanh nghiệp Nhà nớc, nguồn vốn chủ sở hữu từ lãi không chia
không những phụ thuộc lợi nhuận thu đợc hàng năm mà còn phụ thuộc vào chính
sách khuyến khích tái đầu t của Nhà nớc. Còn đối với các công ty cổ phần thì việc
để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một
phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu t, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia
lãi cổ phần, các cổ đông không đợc nhận tiền lãi cổ phần nhng bù lại họ có quyền
sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty. Do đó, có thể khuyến khích cổ đông
giữ cố phiếu lâu dài, nhnh mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong
thời kỳ trớc mắt do cổ đông chỉ nhận đợc một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chia
cổ tức thấp hơn khi cha chia lợi nhuận để lại hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì
giá cổ phiếu có thể giảm sút.
Nh vậy, khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu t, chính sách phân phối cổ tức
của công ty cổ phần phải lu ý đến một số yếu tố có liên quan nh: tổng số lợi nhuận
ròng trong kỳ, mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trớc, sự xếp hạng cổ
phiếu trên thị trờng và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty, tâm lý và
đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó, hiệu quả của việc tái đầu t.
3.1.2/ Huy động nợ
Trong quá trình hoạt động, công ty mẹ cũng nh bất cứ một công ty thành viên
nào khác trong tập đoàn rất cần đợc bổ sung thêm vốn phục vụ phát triển sản xuất
kinh doanh, đặc biệt khi doanh nghiệp đầu t để mở rộng qui mô sản xuất kinh
doanh, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới càng nhiều thì
nhu cầu về vốn càng lớn. Ngoài phơng thức huy động vốn chủ sở hữu, công ty mẹ
và các công ty con có thể tìm kiếm nguồn vốn bằng các hình thức huy động nợ.
13
Nếu căn cứ theo thời gian, huy động nợ bao gồm huy động nợ ngắn hạn và huy
động nợ trung, dài hạn.
Huy động nợ ngắn hạn có các hình thức: vay ngân hàng thơng mại và các tổ
chức tín dụng, vay cán bộ công nhân viên, vay nớc ngoài, các khoản vốn trong
thanh toán cha đến kỳ trả. Huy đọng nợ ngắn hạn đợc sử dụng nhằm trang trải cho
nhu cầu tiền đã đợc dự toán trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông thờng, các khoản nợ đợc coi là ngắn hạn là các khoản nợ có thời hạn trả nợ
dới 01 năm.
Huy động nợ trung, dài hạn có các hình thức: phát hành trái phiếu, vay ngân
hàng và các tổ chức tín dụng, vay cán bộ nhân viên, vay nớc ngoài Huy động nợ
dài hạn nhằm tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất hiện
có tại doanh nghiệp. Các khoản nợ trung, dài hạn có thời hạn vay vốn trên 01 năm.
Nếu căn cứ theo nguồn huy động thì huy động nợ bao gồm:
- Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là giấy tờ ghi nợ do doanh nghiệp phát
hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn với các điều kiện về mệnh giá, lãi suất
và thời hạn xác định. Khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu tức là doanh nghiệp
đó thực hiện một quan hệ tín dụng thông qua việc bán các công cụ tài chính ra thị
trờng chứng khoán. Độ rủi ro của trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếu. Chi phí trả
lãi trái phiếu đợc coi là khoản chi phí trớc thuế.
Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại: trái phiếu tín chấp, trái phiếu thế chấp,
trái phiếu có khả năng chuyển đổi, trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi
suất thả nổi Trớc khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phải lựa chọn loại trái
phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình trên thị
trờng tài chính vì nó sẽ liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lu
hành và tính hấp dẫn của trái phiếu. Các loại trái phiếu chủ yếu trên thị trờng tài
chính các nớc hiện nay là:
Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu đợc sử dụng nhiều nhất.
Đặc điểm của loại trái phiếu này là lãi suất đợc ghi ngay trên mặt trái phiếu và
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét