4. Thời kỳ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự
chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số
"cột môc" có tính đột phá sau đây:
+ Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý
Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động
ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cơ chế mới về hoạt
động ngân hàng đã được hình thành và hoàn thiện dần - Tháng 5/1990, hai
pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và
Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức
chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2
cấp - Trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi
cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:
+ Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt
động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực
thi nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương - là ngân hàng duy nhất được
phát hành tiền; Là ngân hàng của các ngân hàng và là Ngân hàng của Nhà
nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm
vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các
chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.
+ Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do
các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện. Cùng với quá
trình đổi mới cơ chế vận hành trong hệ thống ngân hàng là quá trình ra đời
hàng loạt các ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình sở hữu khác
nhau gồm Ngân hàng thương mại quốc doanh, cổ phần, Ngân hàng liên doanh,
chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín
5
dụng, QTDND, công ty tài chính Trong thời gian này, 4 ngân hàng thương
mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông nghiệp Việt
Nam; 2) Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng Công
thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
+ Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách
của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng
Việt Nam không ngừng đổi mới và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng
trách của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong
thiên niên kỷ mới. Những dấu ấn dưới đây liên quan trực tiếp và thúc đẩy quá
trình đổi mới mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
Năm 1993: Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính
tiền tệ quốc tế (IMF, WB, ADB)
Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với
hoạt động ngân hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
Năm 1997: Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và Luật các tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ
1/10/1998; Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long
(Quyết định số 769/TTg, ngày 18/9/1997).
Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ
cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMCP.
Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng -
Bước cuối cùng tự do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào
và đầu ra.
Năm 2003: Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với
chuẩn quốc tế đối với các Ngân hàng thương mại; Thành lập NHCSXH trên
6
cơ sở Ngân hàng phục vụ người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính
sách với tín dụng thương mại theo cơ chế thị trường; Tiến hành sửa bước 1
Luật NHNNVN.
Năm 2008: Thực hiện cam kết khi gia nhập tổ chức Thương mại Thế
giới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chính thức cấp phép thành lập 05
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, bao gồm: Ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân
hàng Hong Leong Việt Nam, Ngân hàng Stardard Chartered Việt Nam, Ngân
hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Shinhan Việt Nam.
II. Nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và vai trò của hệ thống Ngân hàng Việt
Nam trong nền kinh tế quốc dân.
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.1. Vị trí của NHNN Việt Nam.
NHNN Việt Nam được tổ chức theo mô hình NHTW trực thuộc Chính
phủ. Điều 1, Luật NHNN Việt Nam quy định: “NHNN Việt Nam là cơ quan
của Chính phủ và là NHTW của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Như vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ, Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là thành viên của Chính phủ, chịu trách nhiệm
trước Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực được giao.
1.2. Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam.
NHNN Việt Nam được tổ chức thành một hệ thống tập trung thống nhất
gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính (đóng tại thủ
đô Hà Nội) và mạng lưới chi nhánh tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, Văn phòng đại diện và các đơn vị trực thuộc. Điều hành NHNN được
đặt dưới quyền của Thống đốc NHNN. Thống đốc NHNN là thành viên của
Chính phủ, được bổ nhiệm như các thành viên khác của Chính phủ, tức là
Chính phủ đề nghị và phải được Quốc hội thông qua. Giúp việc cho thống đốc
có các Phó thống đốc, trong đó có một Phó thống đốc trực. Tham mưu cho
Ban Thống đốc là các vụ, cục chức năng. Hiện Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam bao gồm Thống đốc và 05 Phó Thống đốc; 18 đơn vị tham
7
mưu; 06 đơn vị sự nghiệp và 63 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành
phố.
1.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của NHNN Việt Nam.
Trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, NHNN có các nhiệm vụ và quyền hạn
sau:
* Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội
của đất nước; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ
chức tín dụng Việt Nam.
* Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét
trình Quốc hội quyết định và đồng thời trực tiếp tổ chức thực hiện dự án chính
sách tiền tệ đã được phê duyệt
* Xây dựng các dự án luật, Pháp lệnh và dự án khác về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng.
* Ký kết, tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
theo quy định của pháp luật.
* Đại diện cho Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tài
chính và ngân hàng quốc tế trong những trường hợp được Chủ tịch nước,
Chính phủ uỷ quyền.
* Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu, ứng
dụng khoa học và công nghệ ngân hàng.
* Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín
dụng; quyết định giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng
theo quy định của pháp luật.
* Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lý
các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm
quyền.
* Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp.
* Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế.
* Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng.
Trong việc thực hiện chức năng NHTW, NHNN Việt Nam có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau:
8
* Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát
hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền.
* Thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương
tiện thanh toán cho nền kinh tế.
* Điều hành chính sách tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở.
* Kiểm soát dự trữ quốc gia; quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước.
* Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng, làm dịch vụ thanh toán,
quản lý việc cung ứng các phương tiện thanh toán.
* Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà
nước.
* Tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ thông tin qua ngân
hàng.
Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã được đổi mới
căn bản và từng bước hoàn thiện theo hướng gọn nhẹ, không chồng chéo chức
năng nhiệm vụ. Đáng chú ý, từ cuối năm 1998 hai Luật ngân hàng có hiệu lực
là bước tiến mới về củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân
hàng. Năng lực xây dựng và điều hành, quản lý tiền tệ – tín dụng – ngân hàng
của NHNN đã được nâng lên một tầm cao mới, thực hiện tốt chính sách tiền tệ
quốc gia và hoạt động có hiệu quả.
2. Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
2.1 Khái niệm về NHTM
Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị
trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-
1990 của Hội đồng Nhà nước xác định: "Ngân hàng thương mại là tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Như vậy NHTM
làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh
9
lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh
nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung
gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhưng người ta vẫn phải tách
NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như tổng
tài sản có của NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân
hàng, hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo
ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế.
Cho thấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như
trong nền kinh tế quốc dân.
Tính đến 30/6/2009, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam bao
gồm 5 NHTMNN, 39 NHTMCP, 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân
hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh. Mạng lưới hoạt động của
các ngân hàng đã trải rộng tới nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Đa số các
Ngân hàng vẫn tiếp tục có nhu cầu mở rộng mạng lưới. Giữa trụ sở và các chi
nhánh về cơ bản đã được kết nối trực tuyến, do đó chất lượng quản lý trong hệ
thống của nội bộ từng TCTD đã có sự cải thiện đáng kể.
2.2 Vai trò của NHTM Việt Nam
2.2.1 Khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng
vốn luân chuyển.
Trong nền kinh tế luôn xuất hiện những chủ thể ở tình trạng thặng dư
tạm thời. Họ có nhu cầu đầu tư để bảo toàn vốn và sinh lời. Tuy vậy, không
phải ai cũng có cơ hội thực hiện điều đó. Các NHTM huy động những khoản
vốn này dưới nhiều hình thức: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tích tụ
chúng và cho vay lại nền kinh tế. Như vậy, thay vì bị rút khỏi lưu thông, tồn
tại dưới dạng cất trữ, tiền được chuyển thành vốn đầu tư, sinh lời. Thông qua
hệ thống NHTM, các dòng vốn được hình thành và luân chuyển một cách dễ
dàng, thông suốt hơn trong nền kinh tế. Một số bộ phận của các dòng vốn này
có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, như các khoản đầu tư vào sự
10
phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng hầu hết các bộ phận khác chỉ đơn thuần làm
tăng nguồn lực vốn trong quan hệ với lợi tức tài chính của các khoản đầu tư,
cả trong các khoản đầu tư nợ lẫn đầu tư vốn chủ sở hữu.
2.2.2 Phân bổ vốn hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực.
NHTM về bản chất là các doanh nghiệp, kinh doanh vì mục tiêu tối đa
hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Họ phải lựa chọn những doanh nghiệp hay
dự án có khả năng thu hồi nợ, có hiệu quả để cho vay. Nhờ quá trình sàng lọc
tín dụng, vốn trong nền kinh tế được tập trung vào những khu vực có khả năng
sinh lời cao, mang lại nhiều lợi ích. Những lĩnh vực hay ngành nghề kém hiệu
quả sẽ không nhận được vốn. Nhờ các trung gian tài chính này, vốn được
phân bổ hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực.
2.2.3 Giảm chi phí, tối thiểu hóa rủi ro.
Việc chuyển dịch vốn diễn ra trực tiếp giữa các chủ thể thặng dư và
thiếu hụt vốn đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều chi phí của cả hai bên: thu thập và
xử lý thông tin, chi phí về thời gian, trong nhiều trường hợp, các nhu cầu này
không thể tương thích và giao dịch không thể diễn ra. Xét đến cùng, những chi
phí phát sinh như vậy gây thiệt hại cho toàn bộ nền kinh tế vì làm lãng phí, tổn
thất nguồn lực. Các NHTM với tư cách là những tổ chức trung gian tài chính,
có thể giảm thiểu tới mức thấp nhất những chi phí này. NHTM thu thập và
nắm giữ thông tin về một lượng lớn người có nhu cầu về vốn cũng như những
người khác sẵn sàng cung ứng vốn. Cũng do được chuyên môn hóa, NHTM
có các nghiệp vụ kỹ thuật để san sẻ và phân tán rủi ro. Họ có khả năng thu
thập được lượng lớn thông tin liên quan đến số lượng đông đảo các đối tượng
khác nhau, có thể giảm sát các khoản tín dụng, giảm các nguy cơ về rủi ro đạo
đức cũng như thông tin không cân xứng.
2.2.4 Hỗ trợ đổi mới công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất.
NHTM ảnh hưởng đến tăng trưởng bằng cách làm thay đổi tỷ lệ tiết
kiệm và thông qua sự tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng sản
11
xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, mà chủ yếu là đầu tư vào công nghệ, nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ vì vậy chịu sự tác
động từ vai trò của các hệ thống tài chính.
2.2.5 Hoạt động của NHTM góp phần nâng cao môi trường kinh doanh,
xây dựng văn hóa kinh doanh đối với các doanh nghiệp.
Việc NHTM tham gia sâu vào các hoạt động của nền kinh tế như hoạt
động góp vốn, tư vấn… cũng tạo ra những hiệu ứng tích cực cho sự đổi mới
phong cách làm việc của những chủ thể này. Bản thân NHTM là những tổ
chức hoạt động chuyên nghiệp, với hệ thống công nghệ hiện đại, mạng lưới
thông tin rộng khắp. Sự năng động và phong cách chuyên nghiệp, minh bạch
của ngành Ngân hàng giúp các tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế hình
thành tác phong công nghiệp chuyên nghiệp và văn hóa kinh doanh.
III. Một số đánh giá về hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
hiện nay.
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành
một xu thế của thời đại và diễn ra ngày càng sâu về nội dung, ngày càng rộng
về quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, Việt Nam đã và đang thực
hiện giai đoạn đầu tiên của quá trình hội nhập quốc tế.
Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN; tham gia vào khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA); ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa
Kỳ và đang trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO; tham gia vào nhiều tổ
chức kinh tế quốc tế cũng như ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương
mại song phương khác.
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã và sẽ tác động trực tiếp
đến hệ thống NHTM VN qua việc cho phép các ngân hàng có vốn đầu tư nước
ngoài và những ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại VN và được
đối xử theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc. Khi đó, các quốc gia nằm trong
khuôn khổ các hiệp định sẽ đều có cơ hội để tham gia vào thị trường tài chính
– ngân hàng VN.
12
1. Cơ hội và thách thức của các NHTM Việt Nam trong quá trình
hội nhập:
1.1 Cơ hội.
- Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính trong nước,
khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến
sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị
phần giữa các nhóm ngân hàng theo hướng cân bằng hơn, thị phần của từng
NHTM có thể giảm và nhường chỗ cho các nhóm ngân hàng khác, nhất là tại
các thành phố và khu đô thị lớn. Tùy theo thế mạnh của mỗi ngân hàng, sẽ
xuất hiện những ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên môn hóa như ngân
hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, đồng thời hình thành một
số ngân hàng qui mô lớn, có tiềm lực tài chính và kinh doanh hiệu quả.
- Kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng buộc các NHTM phải có
cơ chế quản lý và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt là hoạt động quản trị
ngân hàng, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh trên thị
trường tài chính. Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống
ngân hàng VN, nhất là trên thị trường tài chính khu vực.
- Có cơ hội khai thác và sử dụng hiệu quả lợi thế của các hoạt động
ngân hàng hiện đại đa chức năng, có thể sử dụng vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lý từ ngân hàng các nước phát triển.
- Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường
tài chính quốc tế dễ dàng hơn, hiệu quả tăng lên trong huy động và sử dụng
vốn. Các ngân hàng trong nước sẽ phản ứng nhanh nhạy, điều chỉnh linh hoạt
hơn theo tín hiệu thị trường trong nước và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận
và giảm thiểu rủi ro.
- Hội nhập còn tạo ra động lực thúc đẩy trong việc nâng cao tính minh
bạch của hệ thống ngân hàng VN.
1.2 Thách thức:
Cùng với cả nước, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đang tích cực chuẩn
bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc
13
tế, nâng dần vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, điều này tạo ra cơ hội
để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong nước, đồng thời cũng đặt ra
không ít những thách thức cần phải vượt qua:
- Mở cửa thị trường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm
lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý. áp lực cạnh tranh cũng
tăng dần theo lộ trình nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước
ngoài, nhất là về thành lập các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, mở chi nhánh
và các điểm giao dịch, phạm vi hoạt động, hạn chế về đối tượng khách hàng
và tiền gửi được phép huy động, khả năng mở rộng dịch vụ ngân hàng, trong
khi các tổ chức tài chính Việt Nam còn nhiều yếu kém, trình độ chuyên môn
và trình độ quản lý còn bất cập, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh thấp, nợ
quá hạn cao, khả năng chống đỡ rủi ro còn kém. Vì thế, các NHTM Việt Nam
sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh về qui mô, khách hàng và hệ thống kênh phân
phối, nhất là sau năm 2010, khi những hạn chế nêu trên và sự phân biệt đối xử
bị loại bỏ căn bản. Sau thời gian đó, qui mô hoạt động và khả năng tiếp cận thị
trường, các nhóm khách hàng, chủng loại dịch vụ do các ngân hàng nước
ngoài cung cấp sẽ tăng lên. Đáng chú ý, rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Việt
Nam có thể tăng lên do các ngân hàng nước ngoài nắm quyền kiểm soát một
số tổ chức tài chính trong nước thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần,
liên kết kinh doanh; một số tổ chức tài chính trong nước sẽ gặp rủi ro và có
nguy cơ thua lỗ, phá sản do sức cạnh tranh kém và không có khả năng kiểm
soát rủi ro khi tham gia các hoạt động ngân hàng quốc tế.
- Mở cửa thị trường tài chính trong nước cũng làm tăng rủi ro do những
tác động từ bên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị
trường trong nước và thị trường quốc tế giảm dần. Hệ thống Ngân hàng Việt
Nam cũng phải đối mặt với các cơn sốc kinh tế, tài chính quốc tế và nguy cơ
khủng hoảng. Trong trường hợp đó, thị trường vốn chưa phát triển sẽ khiến hệ
thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi ro gây lên.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét