5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Yếu tố công cụ, phương tiện lao động: Tiện nghi thuận lợi thì tạo ra điều
kiện lao động tốt hơn, công cụ lao động thô sơ thì tạo nên một điều kiện
lao động không tốt thậm chí gây khó khăn trong quá trình làm việc của
người lao động
- Yêú tố đối tượng lao động: đối tượng lao động rất phong phú và đa
dạng,các yếu tố ảnh hưởng xấu cho người lao động như dòng điện, hóa
chất, vật liệu nổ…
- Quá trình công nghệ: Công nghệ hiện đại hay lạc hậu ảnh hưởng nhiều
đến người lao động, điều kiện làm việc cải thiện hay không phụ thuộc
lớn vào dây chuyền công nghệ.
- Môi trường lao động: ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe,tâm lý người lao
động, vì vậy Công ty phải quan tâm điến việc cải thiện môi trường lao
động
1.2.2. Các yếu tố liên quan đến sản xuất
Có rất nhiều yếu tố liên quan đến sản xuất:
- Các yếu tố kinh tế ,xã hội; quan hệ hoàn cảnh gia đình liên quan đến tâm lý
người lao động
-Bầu không khí tâm lý trong tập thể, tác phong của người lãnh đạo, khen
thưởng và kỷ luật.
- Điều kiện để thể hiện thái độ đối với người lao động, thi đua, phát huy sáng
kiến .
- Độ dài thời gian làm việc nghỉ ngơi.
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng xấu đến người lao động.
Điều kiện lao động là một yếu tố ảnh hưởng quyết định đến khả năng làm
việc của người lao động. Khi một số yếu tố của điều kiện lao động được kéo
dài thì có thể gây ra sự suy giảm khả năng lao động và gây ra mệt mỏi. Những
yếu tố ảnh hưởng lớn nhất là:
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
5
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Sự căng thẳng về thể lực: Khi làm công việc đòi hỏi sự tập trung cao độ của
mắt thì người lao động rất có thể gặp phải sự căng thẳng về thể lực nếu như
phải làm việc trong thời gian dài, không được nghỉ ngơi… Một số công việc
gây căng thẳng về thể lực: làm việc với máy vi tính…
- Sự căng thẳng về thần kinh: Khi nhịp độ công việc quá nhanh hay chậm quá
cũng dễ làm cho người lao động cảm thấy mệt mỏi, uể oải, dẫn đến hiệu quả
làm việc bị giảm sút. Vì thế phải tạo ra một nhịp điệu công việc ổn định, phù
hợp với người lao động.
- Tư thế lao động: Tư thế lao động gò bó, không thoải mái tự nhiên sẽ làm cho
người lao động không thoải mái trong khi làm việc, thao tác kém chính xác vì
vậy ảnh hưởng không tốt đến năng suất lao động và sức khoẻ của người lao
động.
- Tính đơn điệu của lao động: Công việc mà mức độ lặp lại của các bước công
việc cao thì gây ra sự đơn điêu nhàm chán đối với người lao động, dễ làm cho
người lao động mất hứng thú trong lao động làm giảm năng suất lao động.
- Vi khí hậu: Vi khí hậu là nhân tố thường gặp trong sản xuất có ảnh hưởng
lớn tới khả năng làm việc và sức khoẻ của người lao động. Các yếu tố của vi
khí hậu như: độ ẩm, nhiệt độ, sự lưu thông không khí….
Nhiệt độ: Các quá trình sản xuất được diễn ra ở nhưng nơi các nhiệt độ
khác nhau. Có những quá trình sản xuất diễn ra ở nơi có nhiệt độ cao như: nấu
quặng, luyện nhiệt… ở những nơi làm việc này nhiệt lương toả ra môi
trường là rất lớn. Nhưng có những quá trình sản xuất diễn ra trong điều kiện
nhiệt độ thấp như sản xuất nước đá, thực phẩm….như vậy tuỳ theo môi
trường sản xuất mà nhiệt độ trong khu vực sản xuất có thể có những chênh
lệch đáng kể so với nhiệt độ của môi trường tự nhiên.
Độ ẩm: là lượng hơi nước có trong một m3 không khí. Độ ẩm liên quan
trực tiếp đến việc điều hoà thân nhiệt của người lao động trong quá trình lao
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
6
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động. Nơi làm việc có độ ẩm cao thì việc điều hoà thân nhiệt của người lao
động ở đó khó khăn hơn vì mồ hôi khó bay hơi. Độ ẩm còn là nguyên nhân
gây ra nhiều bệnh ngoài da.
Sự lưu thông không khí: có ảnh hưởng nhất định đến cơ thể con người.
Nếu lưu thông không khí không tốt thì có thể dẫn đến:
+Làm tăng các yếu tố hơi khí độc, bụi bẩn
+Tạo cảm giác khó chịu cho người lao động làm cho hiệu quả làm việc giảm
và năng suất lao động cũng giảm theo.
- Sự ô nhiễm môi trường trong không khí: Môi trường bị ô nhiễm thì gây ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ của người lao động
-Tiếng ồn:Trong sản xuất công nghiệp, tiếng ồn là nhân tố phổ biến của điều
kiện lao động.Tiếng ồn là tập hợp các âm thanh hỗn độn gây cho con người
những cảm giác khó chịu.Tiếng ồn ảnh hưởng rất lớn đến thính giác của
người lao động. Chống lại tiếng ồn ngày nay không còn là một vấn đề lý luận
mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách của một số ngành sản xuất.
- Rung động: Rung động xuất hiện chủ yếu do máy móc đang hoạt động gây
ra. Mức độ rung động vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì gây ảnh hưởng đến
thần kinh của người lao động.
- Chiếu sáng: Ngày nay trong sản xuất, nhu cầu về chiếu sáng trong sản xuất
ngày càng cao. Thị lực của con người phụ thuộc rất lớn về chiếu sáng: độ
chiếu sáng tăng thì thị lực cũng tăng và độ ổn định của thị lực cũng lâu bền.
Mặt khác thành phần quang phổ của nguồn ánh sáng cũng có tác dụng lớn đối
với mắt.
1.4. Ảnh hưởng của điều kiện lao động đến sức khỏe, khả năng làm việc,
năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động trong Công
ty.
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
7
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong cuốn” Những nhân tố khích lệ công việc” xuất bản năm 1959 đã tổng
kết thành quả công trình nghiên cứu của Frederick Hergberg. Frederick và
đồng sự tiến hành điều tra trên 200 ký sư và nhân viên kỹ thuật của ngành
công nghiệp ở Pittburg. Kết quả cho thấy, năm nhân tố khiến công nhân hài
lòng thường là: Thành tích, sự khen gợi, bản thân công việc, trách nhiệm và
sự tiến bộ. Điều chú ý là những nơi mà nhân viên cảm thấy hài lòng thường là
những nơi có năm nhân tố đó, điều dễ làm cho cán bộ công nhân viên bất mãn
cũng có năm nhân tố. Thời gian tác động của nó không dài và rất ít khi có khả
năng trở thành nhân tố làm cho cán bộ công nhân viên hài lòng, kể cả trường
hợp có đủ cá nhân tố ở mức độ cao; năm nhân tố đó là: chính sách và phương
thức quản lý của công ty, sự giám sát của cầp trên, tiền lương, mối quan hệ
giữa con người và điều kiện làm việc( Trích trang 266-267 trong “ Tinh hoa
quản lý 25 tác giả và tác phẩm nổi tiếng nhất về quản lý trong thế kỷ XX- Nhà
xuất bản Lao Động – Xã Hội, 2002.).
Như vậy ở trên đã chỉ ra năm nhân tố làm cho cán bộ công nhân viên hài
lòng và năm nhân tố làm cho cán bộ công nhân viên bất mãn theo quan điểm
của Frederick Hergberg. Cảm giác hài lòng sẽ làm cho người lao động yêu
thích công việc hơn, găn bó với công việc làm cho năng suất lao động, hiệu
quả làm việc của người lao động tăng dẫn đến làm cho lợi ích của người lao
động tăng điều đó làm cho họ trung thành hơn với công ty. Còn khi người lao
động có cảm giác bất mãn thì họ sẽ không thể tập trung vào công việc , xuất
hiện thái độ tiêu cực thâm chí có thể dẫn đến ngừng làm việc tập thể, đình
công , bãi công… Điều đó làm ảnh hưởng xấu đến năng xuất lao động, hiệu
quả làm việc, thậm chí làm ngừng trệ sản xuất khiến công ty ngừng làm việc
tạm thời…Theo Frederick thì trái lại với cảm giác bất mãn là không bất mãn;
hài lòng là không hài lòng. Muốn người lao động hài lòng trong công việc,
công ty chỉ đáp ứng năm nhân tố làm cho cán bộ công nhân viên hài lòng theo
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
8
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Frederick là chưa đủ mà còn phải làm cho họ không có cảm giác bất mãn với
công việc. Điều đó có nghĩa là công ty phải đáp ứng đủ năm nhân tố như trên
theo quan điểm của Frederick trong đó có nhân tố điều kiện lao động. Thiếu
một trong năm nhân tố cũng sẽ làm cho người lao động cảm thấy bất mãn. Vì
vậy điều kiện lao động có vai trò quan trọng đối với người lao động, công ty.
Điều kiện lao động tác động thuận chiều với năng suất lao động, hiệu quả làm
việc của người lao động. Nếu điều kiện lao động tốt thì năng suất lao động,
hiệu quả làm việc của người lao động tăng, nếu điều kiện lao động không tốt
thì năng suất lao động, hiệu quả làm việc giảm( trong điều kiện đã đáp ứng
đầy đủ các nhân tố khác).
Để xét điều kiện lao động của công ty có tốt hay không tốt, thường dựa vào
phân tích bốn yếu tố chủ yếu: công cụ, phương tiện lao động; đối tượng lao
động; quy trình công nghệ; môi trường lao động. Người lao động là người sử
dụng trực tiếp công cụ, phương tiện lao động; tiếp xúc trực tiếp với đối tượng
lao động, quy trình công nghệ, môi trường lao động. Vì vậy điều kiện lao
động ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe, năng suất lao động của người lao động.
Điều kiện lao đông tốt thì không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động,
năng suất lao động và ngược lại.
Mỗi nhân tố khác nhau có mức độ tác động đến người lao động hiệu quả làm
việc của người lao động khác nhau .Tuy nhiên chúng lại có sự kết hợp tương
tác lẫn nhau dẫn đến các tác động chung đến sức khoẻ ,năng suất lao động của
người lao động mà gọi chung là tác động của điều kiện lao động đến người
lao động .
Tác động của điều kiện lao động được phân ra làm hai loại :
• Loại tác động tao ra các điều kiện thuận lợi cho người lao động trong
quá trình lao động. Tức là khi các yếu tố của điều kiện lao động được
đáp ứng ở mức tốt nhất, tói ưu nhất thì chúng sẽ tạo ra sự thuận lợi
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
9
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong quá trình lao động như: không ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của
người lao động, tăng hiệu quả làm việc, tạo ra hứng thú làm việc và
động lực để người lao động hoàn thành nhiệm vụ.
• Loại tác đông tạo ra điều kiện không thuận lợi: Khi các yếu tố của điều
kiện lao động không được đáp ứng ở mức tối ưu hoặc không được đáp
ứng một cách đồng bộ, chỉ quan tâm yếu tố này mà bỏ qua yêua tố khác
thì dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến người lao động: nguy hiểm đến
sức khoẻ, khả năng làm việc, làm cho người lao động mất hứng thú
trong công việc, làm việc với tinh thần uể oải, mệt mỏi…
Để khắc phục được những ảnh hưởng không tốt tới người lao động thì các
doanh nghiệp , Công ty cần phải luôn luôn quan tâm tới việc cải thiện điều
kiện lao động
Như vậy có thể khẳng định rằng việc cải thiện điều kiện lao động mang một ý
nghĩa quan trọng trong việc cải thiện sức khoẻ, năng suất lao động và khả
năng làm việc của người lao động.
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
10
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN
2.1 . Khái quát về hoạt động của Công ty
Công ty xi măng Bỉm Sơn thành lập theo quyết định số 366/BXD-TCLĐ ngày
12/8/1993 của bộ trưởng Bộ xây dựng trên cơ sở hợp nhất 2 đơn vị là Nhà
máy xi măng Bỉm Sơn và Công ty kinh doanh xi măng- vật tư xây dựng(Công
ty cung ứng vật liệu xây dựng số 4 cũ). Công ty chuyển tổ chức hoạt động
sang thành Công ty cổ phần và chính thức chuyển đổi hoạt dộng theo mô hình
này từ 01/5/2006 theo quyết định số 456/QĐ-BXD ngày 23/3/2006 của Bộ
trưởng Bộ xây dựng
Mô hình cơ cấu tổ chức của nhà máy là theo mô hình cơ cấu trực tuyến
Bảng 1 : Mô hình cơ cấu tổ chức kinh doanh của Công ty cổ phần xi
măng Bỉm Sơn
SV: Nguyễn Thị Dung – QTNL 46B
11
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản
xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu xi măng, Clinker và sản xuất các loại vật liệu
xây dựng khác; với các sản phẩm: xi măng Pôclăng PC40, PC50; xi măng
Pôclăng hỗn hợp PCB 30, PCB 40; Clinker.
Hiện nay Công ty đang sản xuất xi măng theo hai dây chuyền công nghệ:
-Dây chuyền sản xuất xi măng theo phương pháp ướt: với công suất thiết kế
0,6 triệu tấn xi măng/ năm được khởi công xây dựng từ năm 1977 với công nghệ
sản xuất và thiết bị động bộ do Liên Xô cung cấp, được hoàn thành và đưa vào
sản xuất năm 1982
- Để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nhà máy, nâng cao công suất nhà máy đáp
ứng nhu cầu sử dụng xi măng, ngày 13/1/2001 Công ty đã khởi công xây dựng
cải tạo hiện đại hóa dây chuyền số II từ sản xuất xi măng theo phương pháp ướt
sang sản xuất xi măng theo phương pháp khô công nghệ hiện đại của Nhật Bản
nâng công suất từ 0,6 triệu tấn xi măng / năm lên 1,2 triệu tấn xi măng/ năm, đưa
sản lượng của Công ty lên 1,8 triệu tấn xi măng/ năm. Hiện tại Công ty đang xây
dựng một dây chuyền mới sản xuất xi măng theo phương pháp khô công suất 2
triệu tấn xi măng/ năm dự kiến quý II năm 2009 đưa vào sử dụng.
Sơ đồ dây chuyền công nghệ
Bảng 2: Sơ đồ công nghệ của Công ty xi măng Bỉm Sơn
12
12
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2 Thực trạng điều kiện lao động trong Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
2.2.1Thực trạng điều kiện lao động của lao động sản xuất
Thời gian nghỉ ngơi của người lao động sản xuất được quy định như sau:
Ca 1: từ 06 giờ đến 14 giờ
Ca 2: từ 14 giờ đến 22 giờ
Ca 3: từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau
Thời gian nghỉ giữa ca là 30 phút
2.2.1.1 Đặc điểm điều kiện lao động của một số công việc sản xuất
Sản xuất xi măng là một nghề độc hại và nguy hiểm. Đây là một ngành nghề
mà có nhiều công việc nặng nhọc được nhà nước quy định. Dưới đây là một số
công việc người lao động sản xuất thường xuyên thực hiện và điều kiện làm việc
của nó
Bảng3: Điều kiện lao động của một số công việc
STT Tên công việc Đặc điểm về điều kiện lao động
của công việc
Điều kiện lao động loại IV
1 Vệ sinh công nghiệp đầu lò nung Công việc thủ công nặng nhọc chịu
ảnh hưởng của nóng bụi nhiều
2 Vận chuyển xi măng bằng xe
cầy
Lao động thủ công nặng nhọc,
nóng, bụi
13
13
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3 Bốc, dỡ xỉ than, thạch cao Công việc thủ công nặng nhọc, làm
việc ngoài trời, bụi than vượt tiêu
chuẩn cho phép nhiều lần
4 Gia công nguyên liệu sản xuất xi
măng lò đứng
Công việc thủ công nặng nhọc, làm
việc ngoài trời, bụi than vượt tiêu
chuẩn cho phếp nhiều lần
5 Sửa chữa các thiết bị sản xuất xi
măng trong các phân xưởng sản
xuất chính
Công việc nặng nhọc, tư thế làm
việc gò bó, ồn, nóng, bụi nhiều
6 Vệ sinh công nghiệp trong các
phân xưởng chính
Công việc thủ công nặng nhọc, tư
thế làm việc gò bó, ồn, nóng, bụi
nhiều
7 Vệ sinh Clinker trong sản xuất xi
măng lò đứng
Công việc thủ công nặng nhọc, môi
trường làm việc nóng bụi
8 Vận hành lò quay nung Clinker Làm việc trong điều kiện nóng bụi
ồn
9 Vận hành máy xúc Clinker trong
kho
Công việc nặng nhọc chịu tác động
của ồn và bụi nhiều
10 Vận hành máy cyclon trao đổi
nhiệt
Công việc thủ công, nặng nhọc,
nóng, bụi
11 Chọc xilô xi măng Công việc thủ công, nặng nhọc,
bụi, ồn
12 Đóng bao xi măng bằng máy 4
vòi bán tự động
Công việc rất nặng nhọc, nóng, tư
thế làm việc rất gò bó, chụi tác
động của ồn, bụi vượt tiêu chuẩn
rất nhiều lần
13 Vận hành cần trục, cầu giải kho Tiếp xúc thường xuyên với ồn và
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét