Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Thực trạng và 1 số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng NN và PTNT huyện Thanh Trì

PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các loại hình tín dụng ngân hàng:
2.1.1.1. Khái niệm:
Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và lãi
giữa người có vốn ( Ngân hàng, TCTD) và người thiếu vốn ( tổ chức, cá
nhân).Theo nghĩa nguyên thủy của khái niệm tín dụng (credit) là tin mà đưa
tiền cho sử dụng. Như vậy tín dụng phụ thuôc rất nhiều chữ tin hay chữ tín ở
người vay tiền. Theo nghĩa rộng, chữ tín này bao hàm cả năng lực tài chính và
sự sẵn sàng trả tiền của người đi vay hay không.
Theo các nhà kinh tế, tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua
nhiều hình thái kinh tế xã hội. Tín dung hình thành và phát triển cùng với quá
trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, dưới
những góc độ khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra những định nghĩa khác nhua
về tín dụng.
Khi nghiên cứu về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền sản xuất
TBCN, C.Mác đã chỉ rõ: “Tín dụng là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã
khiến 1 người này giao cho 1 người khác 1 số tư bản nào đó, dưới hình thái
tiền hoặc dưới hình thái hàng hóa đáng giá 1 số tiền nhất định nào đó. Số tiền
này được trả lại trong thời gian nhất định. Từ đó theo C.Mác điểm tất yếu của
sự luân chuyển ( trở về) điểm xuất phát của đồng tiền không chỉ giữ được
nguyên vẹn giá trị mà nó lại đồng thời lớn lên trong quá trình vận động.
Theo tác giả Lê Văn Tề, trong quyển Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng
cho rằng: “ Tín dụng là quan hệ kinh tế vay mượn trên cơ sở lòng tin của cả
người cho vay và người đi vay”.
5
Dù được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng bản chất của
tín dụng được thể hiện là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn và
người có vốn dựa trên cơ sở lòng tin. Biểu hiện bề mặt của quan hệ tín dụng
là sự vận động lượng giá trị vốn tín dụng qua các giai đoạn: phân phối vốn tín
dụng, sử dụng vốn tín dụng và hoàn trả vốn tín dụng. Sự vận động của lượng
giá trị vốn tín dụng khi quay về điểm xuất phát luôn phải đảm bảo giá trị và
giá trị tăng thêm dưới hình thức lợi tức thông qua cơ chế điều tiết lãi suất.
Như vậy, ta có thể khái quát như sau: “Tín dụng là quan hệ kinh tế gắn
với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng theo nguyên tắc hoàn trả nhằm
thỏa mãn nhu cầu vốn phát triển kinh tế xã hội”.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng được coi là hình thức
tín dụng phát triển, giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tín dụng. Đối với ngân
hàng nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chính yếu, quyết định sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng được định nghĩa là các quan hệ vay mượn vốn tiền
tệ phát sinh giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế
theo nguyên tắc tín dụng. Trong đó, đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Ngân hàng thực hiện nhiệm vụ đi vay
vốn của những người có vốn để cho vay những người cần vốn, được hưởng
lợi nhuận, theo sự điều tiết của cơ chế thị trường và được pháp luật bảo vệ.
2.1.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng huy động vốn và cho vay đều thực hiện dưới hình
thức tiền tệ.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng bao gồm hai quá trình tạo lập và sử
dụng quỹ tín dụng hay còn gọi là hoạt động huy động vốn và cho vay. Trong
quan hệ tín dụng, các ngân hàng bằng cơ chế thích hợp huy động các nguồn
tài chính tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra quỹ tiền tệ của mình. Đồng
6
thời với quỹ tiền tệ này , ngân hàng sẽ đáp ứng cho nhu cầu về vốn cho quá
trình phát triển kinh tế. Như vậy tiền chính là đối tượng kinh doanh của mỗi
ngân hàng đây chính là điểm dặc biệt phân biệt giữa ngành ngân hàng và các
ngành sản xuất kinh doanh khác.
Trong tín dụng ngân hàng, các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung
gian tài chính trong quá trình huy động vốn và cho vay vốn.
Đăc trưng quan trọng nhất là tín dụng ngân hàng chỉ thay đổi quyền sử
dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng. Những người thừa vốn
không biết đầu tư vào đâu nên đã nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng.
Ngân hàng tuy là người mắc nợ nhưng các ngân hàng lại là người chủ động ra
điều kiện vay. Hàng kì ngân hàng phải thanh toán 1 phần phí sử dụng nguồn
vốn gọi đó là lãi và có trách nhiệm hoàn trả đủ gốc khi đến hạn. Sau khi đã
huy động được vốn ngân hàng sẽ tiến hành đưa nguồn tiền đó vào lưu thông
bằng cách cho những người có nhu cầu về vốn vay để thu về 1 phần lãi gọi là
phí cho vay. Khoản phí cho vay này bao gồm phần phí phải chi trả cho nguồn
vốn mà ngân hàng đã huy động và khoản lãi theo quy định của từng ngân
hàng. Khi ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho những người có nhu
cầu về vốn, ngân hàng sẽ là người chủ động ra điều kiện cho vay. Người đi
vay cũng phải có trách nhiệm trả cả vốn và lãi theo hợp đồng đã kí với ngân
hàng.
Qúa trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn
toàn phù hợp với quy mô phát triển sản xuất hàng hóa.
Vốn tín dụng ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa.
Nhưng trong nhiều trường hợp vốn tín dụng ngân hàng không tham gia vào
quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa mà chỉ tham gia vào những hoạt
động phi sản xuất vật chất như: cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay tái cầm
cố các loại công trái quốc gia, các loại trái khoán của chính phủ. Những
7
trường hợp trên tín dụng ngân hàng có gia tăng nhưng quy mô sản xuất hàng
hóa không tăng. Trường hợp khác sản xuất hàng hóa tăng nhưng vốn tín dụng
không đáp ứng kịp, mâu thuẫn này diễn ra thường xuyên trong nền kinh tế thị
trường. Những trường hợp trên chứng tỏ vận động tín dụng ngân hàng có sự
độc lập tương đối với sự vận động của quá trình tái sản xuất xã hội.
2.1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng có nhiều loại hay nhiều hình thức khác nhau. Nền
kinh tế càng phát triển các hình thức tín dụng càng phong phú. Việc phân loại
tín dụng nhằm hiểu rõ thêm sự khác biệt của từng loại tín dụng và qua đó ta
có thể sử dụng hoặc hiểu được tín dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Tùy theo
đối tượng và mục đích ngiên cứu ta có thể phân loại tín dụng theo các hình
thức như sau:
Phân loại theo mục đích:
+Cho vay bất động sản.
+Cho vay công nghiệp.
+Cho vay nông nghiệp.
+Cho vay các định chế tài chính.
+Cho vay cá nhân.
+Cho thuê.
Phân loại theo thời hạn cho vay:
+Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn
của cá nhân.
+Cho vay trung hạn: là là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm
được dung vào đầu tư TSCĐ và còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường
xuyên của các doanh nghiệp đặc biệt là ngững doanh nghiệp mới thành lập.
8
+Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn
tối đa có thể lên đến 20 đến 30 năm. Được dùng đáp ứng cá nhu cầu dài hạn.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
câm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của khách hàng.
+Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên các cơ sở đảm bảo như
thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Phân loại theo phương pháp hoàn trả:
+Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ
thể theo hợp đồng.
+Cho vay không có thời hạn cụ thể: với hình thức này ngân hàng có thể
yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ vào bất kì lúc nào, nhưng phải
báo trước 1 thời hạn hợp lí, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp
đồng.
Phân loại theo xuất xứ tín dụng:
+Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp: là các khoản cho vay được thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán.
Các NHTM cho vay gián tiếp theo các loại sau:
- Chiết khấu thương phiếu: người hưởng thụ hối phiếu hoặc lệnh phiếu
còn trong hạn thanh toán có thể nhượng lại cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cấp
cho khách hàng 1 khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng.
Khi chứng từ đến hạn thanh toán người thụ lệnh hối phiếu hoặc người phát
hành lệnh phiếu có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng.
9
- Mua các phiếu bán hàng trả góp: Trong điều kiện hiện nay nhiều
doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa theo hình thức trả góp. Tuy nhiên
nguồn vốn có hạn nên cần có nguồn tài trợ của ngân hàng thông qua việc
nhượng lại các phiếu bán hàng trả góp. Định kì người mua sẽ thanh toán tiền
cho ngân hàng.
- Nghiệp vụ thanh tín( nghiệp cụ factoring) là nghiệp vụ mua các khoản
nợ thương mại(các khoản phải thu), trong đó bên mua( factor) nhận việc thu
nợ và chấp nhận rủi ro tín dụng.
2.1.1.4. Ưu , nhược điểm của tín dụng ngân hàng:
+ Ưu điểm:
- Về khối lượng tín dụng: tín dụng ngân hàng có khả năng cung ứng
những khoản vốn lớn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay của khách hàng.
- Về thời hạn tín dụng: thông thường người có vốn muốn cho vay ngằn
hạn hơn là cho vay dài hạn bởi vì thời hạn ngắn thì đồng tiền ít rủi ro hơn và
ít tổn thất về khả năng thanh khoản, nhưng người đi vay thường có nhu cầu
vay dài hạn. Còn ngân hàng có thể “đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn”.
Chính nhờ, khả năng chuyển hóa thời hạn này mà ngân hàng có thể tạo điều
kiện cho nhu cầu người tích lũy và người đầu tư được đáp ứng phù hợp.
- Về phạm vi tín dụng: Tín dụng ngân hàng có phạm vi huy động vốn
cũng như cho vay rất lớn, liên quan đến rất nhiều chủ thể và các lĩnh vực khác
nhau trong nền kinh tế. Bởi vậy, nó thích hợp với nhiều đối tượng xin vay
cũng như cho vay.
+ Nhược điểm:
Hạn chế cơ bản của TDNH là có độ rủi ro cao. Hạn chế này gắn liền
với chính những ưu điểm của TDNH, do việc ngân hàng có thể cho vay số
tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có hoặc sự chuyển hóa thời hạn và phạm
vi tín dụng rất rộng. Những rủi ro về khả năng thu hồi vốn vay hoặc đầu tư
10
vào dự án lợi nhuận thấp … có nguyên nhân cơ bản là sự lựa chọn đối nghịch,
hay rủi ro đạo đức.
2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung, tích tụ và điều hòa
vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả tài chính được đặt lên
hàng đầu và việc tính toán sử dụng vốn bao giờ cũng gắn liền với cả chi phí,
kể cả chi phí cơ hội. Một khi vốn tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng thì sẽ
lãng phí và tốn kém chi phi cơ hội do vốn chưa được sử dụng vào mục tiêu
sinh lợi. Khi ấy, vốn cần được đem cho vay hay phân phối lại từ nơi tạm thời
nhàn rỗi sang nơi thiếu hụt vốn. Ngược lại, khi thiếu hụt vốn cần có sự bổ
sung kịp thời nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra
liên tục hoặc tăng trưởng như hoạch định. Nhờ có tín dụng ngân hàng, việc
điều hòa hay phân phối lại nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu có thể được
thực hiện 1 cách dễ dàng và nhanh chóng.
Việc tập trung và tích lũy vốn có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh
tế đang phát triển như nước ta. Đứng trước các yêu cầu cấp bách cho sự phát
triển kinh tế đòi hỏi 1 lượng vốn lớn tập trung cho việc phát triển các ngành
và các vùng kinh tế. Hiện nay, nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được nắm giữ ở
các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế là rất lớn. Nhưng nhiều người tích lũy
không muốn đầu tư bởi vì họ bị hạn chế về khả năng và kiến thức tài chính.
Trong khi đó, hệ thống tín dụng ngân hàng có đủ độ tin cậy do tính chuyên
môn hóa cao và làm giảm bớt rủi ro các cá nhân của những người tích lũy. Do
đó, tín dụng làm cho quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng và
có hiệu quả, tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, dặc biệt là nguồn
vốn dài hạn.
11
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kích thích sản xuất và lưu thông hàng
hóa phát triển.
Bất kì 1 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng có nhu cầu về vốn
đầu tư cho quá trình sản xuất và tái sản xuất phát triển. Chính vì vậy hiện
tượng thừa thiếu vốn tạm thời là hiện tượng diễn ra thường xuyên tại các
doanh nghiệp. Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sản xuất liên tục và
nếu không chủ động được nguồn vốn kịp thời sẽ gây mất khả năng thanh toán
có thể dẫn tới phá sản đối với từng doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng với
việc cấp tín dụng thông qua cho vay kịp thời, đã giúp các doanh nghiệp thỏa
mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi, tạo khả năng đảm bảo tính liên tục của quá
trình sản xuất kinh doanh, không để tồn đọng vốn trong quá trình luân
chuyển. Bên cạnh đó, vốn tín dụng tạo điều kiện những người muốn đầu tư có
được khả năng vay vốn để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo thêm
sản phẩm, hàng hóa cho nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay. các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh rất
cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến cơ sở vật chất, mở rộng sản xuất,
ứng dụng công nghệ mới và hiện đại nâng cao năng lực của máy móc, giảm
giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tín dụng ngân hàng góp phần tạo
điều kiện cho doanh nghiệp có thể thực hiện được các dự án đầu tư lớn, tạo ra
những bước nhảy vọt về năng lực do được tiếp cận với máy móc thiết bị hiện
đại, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh, ổn định và tăng trưởng kinh
tế.
Xu hướng của các nhà đầu tư hiện nay là đầu tư vào những ngành, lĩnh
vực thu lại lợi nhuận cao đặc biệt là 1 số ngành như công nghệ thông tin, hay
chứng khoán… trong khi đó nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối,
đồng bộ giữa các ngành và các vùng, cần phải có những ngành then chốt, mũi
12
nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển. Tín dụng ngân hàng góp phần đảm
bảo đầu tư vốn cho cơ sở hạ tầng, hình thành các ngành then chốt và các
ngành kinh tế trọng điểm, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu.
Tín dụng còn là phương tiện để nhà nước thực hiện các chính sách tiền
tệ thích hợp để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có những dấu hiệu bất ổn.
Với các công cụ trực tiếp như: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá đồng thời
thiết lâp và bước đàu sử dụng các công cụ gián tiếp như dự trữ bắt buộc, tái
cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở… đã góp phần giúp nhà nước tăng cường
phạm vi và hiệu quả điều tiết kiểm soát tiền tệ. góp phần quan trọng trong ổn
định hệ thống tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo vốn cho quá trình tăng
trưởng kinh tế và tạo điều kiện phát triển thị trường tiền tệ.
Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thực hiện các
chính sách xã hội của nhà nước.
Với hệ thống ngân hàng rộng khắp, tín dụng ngân hàng giúp cho mọi
người dân có thể tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng từ đó có điều kiện
nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống. Gắn trách nhiệm của người dân
đối với nguồn vốn vay tạo sức ép buộc chủ thể kinh doanh phải thiết lập và
phát triển các dự án kinh doanh có hiệu quả để vừa có thể trả lãi ngân hàng
đồng thời kinh doanh có lãi, tái sản xuất sức lao động, làm giàu cho mình và
cho xã hội.
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành nghề
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đặc biệt là ở khu vực nông thôn.
Thông qua đó góp phần giải quyết vần đề việc làm, hạn chế các tiêu cực xã
hội và các luồng dân cư di chuyển từ khu vực nông thôn vào thành thị.
Nhà nước sử dụng tín dụng ngân hàng không chỉ là 1 công cụ thực hiện
các chính sách điều tiết kinh tế mà còn hướng tới các mục tiêu xã hội nhằm
giải quyết các vấn đề cấp bách đang diễn ra hiện nay là xóa đói giảm nghèo,
13
dân số, việc làm…Với việc áp dụng các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và
thời hạn vay cho các đối tượng chính sách và các hộ nghèo, tín dụng đã đóng
vai trò rất quan trọng trong thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí,
giải quyết công ăn việc làm, xây dựng đội ngũ cán bộ cho địa phương giảm
dần khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị.
Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Trong nền kinh tế mở, nhu cầù vay vốn nước ngoài trở thành nhu cầu
bức thiết đặc biệt là đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam còn
nhiều hạn chế về điều kiện và nguồn lực. Nguồn vốn vay từ nước ngoài đóng
vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực sản xuất, tiếp cận trình độ
công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lí của các nước trên thế giới.
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các
nước trên thế giới mở rộng quan hệ ngoại thương tạo điều kiện nâng cao thu
nhập cho ngân sách nhà nước đồng thời thu hút được nguồn vốn đầu tư trực
tiếp từ nước ngoài cho phép khai thác tối đa nguồn lực hiện có cho quá trình
phát triển kinh tế.
2.1.3. Lãi suất tín dụng:
2.1.3.1. Khái niệm:
Hoạt động tín dụng ngân hàng gắn liền với lợi tức thu được từ hoạt
động tín dụng hay còn gọi là lợi tức tín dụng bởi vì lợi tức tín dụng là thước
đo hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khi ngân hàng thực hiện
quyền cho vay, lợi tức được hiểu là thu nhập có được do chuyển nhượng
quyền sử dụng vốn vay hay là thu nhập nhằm bù dắp cho chi phí cơ hội của
vốn vay. Ngược lại, khi ngân hàng thực hiện quyền vay, lợi tức chính là chi
phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để có được quyền sử dụng
vốn vay.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét