Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Thiết lập cơ cấu vốn tối ưu thông qua sử dụng công cụ huy động vốn bằng trái phiếu cho Công ty cổ phần Chứng khoán HASECOL

Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp gồm hai phần là các nguồn vốn nợ và
nguồn vốn chủ sở hữu, chi phí sử dụng mỗi nguồn vốn là khác nhau, việc sử
dụng nguồn vốn nào cho phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp,
nguồn nào có lợi cho các cổ đông là một công việc khá khó khăn và phức tạp.
Ngày nay, với một tình hình tài chính phát triển thì doanh nghiệp có thể tiếp
cận được các nguồn vốn một cách khá dễ dàng, tuy nhiên, sự biến động của
thị trường luôn làm thay đổi chi phí, giá cả của các nguồn vốn đó vì thế mà
việc xác nhận là rất khó khăn. Dựa trên những thông tin từ thị trường mà
doanh nghiệp có thể tính toán được cơ cấu vốn mục tiêu của mình và theo
đuổi nó. Dựa trên sự phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy
tài chính, đánh giá các mặt lợi thế và bất lợi của từng hình thức tài trợ, các
nhà kinh tế khuyến cáo rằng, để tạo một cơ cấu vốn hợp lý, giúp doanh nghiệp
có thể đạt các mục tiêu đặt ra, việc tài trợ và đầu tư phải tuân thủ 5 nguyên tắc
cơ bản về hoạch định cơ cấu vốn dưới đây:
Nguyên tắc thứ nhất: Hoạch định cơ cấu vốn phải đảm bảo sự phù hợp
giữa thời gian đáo hạn các nguồn tài trợ với chu kỳ sinh lời của tài sản đầu tư.
Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên một thực tế là các nguồn tài trợ có
thời gian đáo hạn rất khác nhau, trong khi thời gian tạo ra các nguồn tiền của
các loại tài sản cũng không giống nhau. Vì vậy, để đảm bảo doanh nghiệp có
khả năng thanh toán ở bất kỳ thời điểm nào, giảm thiểu rủi ro về tài chính thì
việc tài trợ và cơ cấu vốn cần có sự tương thích giữa thời gian được quyền sử
dụng vốn với chu kỳ sinh lời của tài sản đầu tư. Nguyên tắc này yêu cầu các
nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp phải có thời gian hoàn trả vốn gốc và lãi
phù hợp với chu kỳ sinh lời của những tài sản đầu tư vào doanh nghiệp. Với
yêu cầu như vậy, tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên có thời
gian hoàn vốn lâu dài cần được tài trợ bằng các nguồn vốn ổn định là vốn chủ
sở hữu và các nguồn tài trợ dài hạn khác. Còn tài sản lưu động tạm thời cần
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
được tài trợ bằng các nguồn vốn ngắn hạn, nhằm giảm thiểu rủi ro mất khả
năng thanh toán, lành mạnh hoá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Nguyên tắc thứ hai: Hoạch định cơ cấu vốn phải tính đến ảnh hưởng
của đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh. Nguyên tắc này được xây dựng
dựa trên sự phân tích tác động có tính chất đòn bẩy của chi phí cố định và nợ
vay. Nếu như mọi yếu tố khác được đánh giá trong cùng một mặt bằng thì hệ
số về đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh còn tượng trưng cho độ lớn
của rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải. Tác động đòn bẩy kinh doanh và
đòn bẩy tài chính tạo nên hiệu ứng đòn bẩy tổng hợp, đó là sự ảnh hưởng theo
cấp số nhân. Tác động này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của chủ sở hữu,
nếu doanh nghiệp đi vay nhiều, đồng thời lại sử dụng tiền vay để đầu tư tài
sản cố định. Tác động này có tính hai mặt: nó có thể tạo ra những bước phát
triển nhảy vọt nhưng cũng có thể đưa doanh nghiệp mau chóng đến bờ vực
phá sản. Nguyên tắc này yêu cầu phải có sự suy xét thận trọng giữa lợi nhuận
và rủi ro trước khi quyết định cơ cấu vốn theo hướng tăng tỷ trọng vốn vay và
sử dụng tiền vay để mua sắm tài sản cố định cho dự án của doanh nghiệp.
Tuân thủ nguyên tắc này, muốn thiên về an toàn, giảm thiểu rủi ro kinh doanh
và rủi ro tài chính thì nhà quản trị phải giảm tỷ trọng nợ vay, số tiền huy động
nên ưu tiên cho những tài sản tạm thời, những tài sản có khả năng thanh
khoản cao. Việc cơ cấu lại vốn, gia tăng các khoản nợ nhằm phát huy ảnh
hưởng của hiệu ứng đòn bẩy chỉ nên sử dụng khi sản lượng được đánh giá là
có thể vượt xa điểm hoà vốn với độ tin cậy thật cao. Có thể tóm gọn trong
một câu đối với nguyên tắc này là: "Cần phải biết phân biệt đầu tư với đánh
bạc nếu muốn lành mạnh hoá tình hình tài chính doanh nghiệp".
Nguyên tắc thứ ba: Hoạch định cơ cấu vốn phải đảm bảo duy trì quyền
kiểm soát doanh nghiệp. Cơ sở của nguyên tắc này là ở chỗ, chủ sở hữu luôn
có mục tiêu nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền kiểm soát tỷ lệ thuận
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
với số vốn góp. Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này, việc tái cơ cấu vốn phải thực
hiện theo hướng gia tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, đảm bảo cho vốn chủ sở
hữu đủ lớn để doanh nghiệp có thể độc lập về mặt tài chính, chủ sở hữu có thể
chủ động quyết định những vấn để quan trọng trong sản xuất kinh doanh,
không phụ thuộc vào người khác. Trên thực tế, để nắm quyền kiểm soát
doanh nghiệp, người ta có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Thông
qua cơ cấu vốn - gia tăng tỷ lệ vốn góp cũng là một cách để người ta thay đổi
quyền kiểm soát doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp tư nhân - doanh
nghiệp một chủ, vấn đề này thường không cần phải đặt ra. Nhưng đối với
doanh nghiệp đa sở hữu thì quyền kiểm soát lại là một vấn đề lớn. Nguyên tắc
này yêu cầu, để duy trì quyền kiểm soát, doanh nghiệp phải huy động vốn
bằng cách vay, thuê, phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi nếu các nguồn
vốn chủ sở hữu hiện hành không đủ tài trợ cho dự án mới. Tuy nhiên cũng cần
lưu ý rằng cách huy động vốn như trên để duy trì quyền kiểm soát không phải
lúc nào cũng đúng. Doanh nghiệp hay chủ sở hữu có thể bị mất toàn bộ quyền
kiểm soát nếu huy động vốn vay vượt khả năng chi trả các khoản nợ. Do vậy,
hy sinh một phần kiểm soát để đổi lấy một sự an toàn về mătự tài chính cũng
là một yêu cầu cần được xem xét khi tăng tỷ trọng nợ vay trong cơ cấu vốn.
Nguyên tắc thứ tư: Hoạch định cơ cấu vốn phải đảm bảo tính linh hoạt
trong tài trợ vốn. Tính linh hoạt trong tài trợ vốn là khả năng điều chỉnh tăng,
giảm nguồn vốn cho phù hợp với sự thay đổi về nhu cầu vốn qua các thời kỳ
kinh doanh. Nguyên tắc này được đưa ra dựa trên nhận định rằng: Nhu cầu
vốn chịu ảnh hưởng bởi tính "mùa vụ" của sản xuất kinh doanh. Doanh
nghiệp muốn mở rộng sản xuất song nhiều khi cũng muốn thu hẹp quy mô
đầu tư. Do vậy để đảm bảo nâng cao được tính linh hoạt trong việc điều động
vốn, việc cơ cấu vốn phải được xây dựng trên cơ sở giúp doanh nghiệp tăng
được khả năng mặc cả với các nhà cấp vốn trên thị trường. Tuân thủ nguyên
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
tắc này, có thể thấy rằng, việc ưu tiên gia tăng tỷ trọng các khoản nợ, nhất là
nợ ngắn hạn, có thể cho phép các nhà quản trị những cơ hội thuận lợi để điều
chỉnh linh hoạt nguồn vốn. Ngoài ra, việc đa dạng hoá các hình thức tài trợ
bằng cách bổ sung thêm các điều khoản về khả năng thu hồi trước hạn đối với
trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi cũng giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động
điều chỉnh cơ cấu vốn một cách kịp thời khi cần thiết.
Nguyên tắc thứ năm: Hoạch định cơ cấu vốn phải tối thiểu hoá chi phí
sử dụng vốn. Nguyên tắc này được xây dựng trên quan điểm cho rằng, chi phí
sử dụng vốn hay giá vốn là giá của thị trường. Mỗi nguồn tài trợ có yêu cầu
về chi phí sử dụng vốn-giá vốn khác nhau. Giá vốn của mỗi hình thức tài trợ
cũng biến động theo chu kỳ kinh tế. Vì vậy, xây dựng cơ cấu vốn cho doanh
nghiệp phải đảm bảo tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn, nhằm tối đa hoá lợi
ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp.Tuân thủ nguyên tắc này, đòi hỏi nhà quản
trị doanh nghiệp phải đánh giá được xu thế biến động về giá vốn trên thị
trường để lựa chọn thời điểm huy động vốn thích hợp. Mặt khác, cơ cấu vốn
phải nghiêng về các nguồn tài trợ có thời gian đáo hạn ngắn, thời gian hoàn
trả vốn gốc và lãi có thể điều chỉnh một cách linh hoạt, như cổ phiếu ưu đãi,
trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, và các nguồn tài trợ khác.
Trên đây là các nguyên tắc cơ bản hoạch định cơ cấu tài trợ vốn đối với
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Trong các nguyên tắc đó, không có
nguyên tắc nào quan trọng hơn các nguyên tắc còn lại, thứ tự ưu tiên đối với
các nguyên tắc là tuỳ thuộc vào quyền quyết định của Giám đốc tài chính.
Trong nhiều trường hợp, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ nguyên tắc
có thể mang tính khách quan và bất khả kháng, nằm ngoài sự chi phối của
Giám đốc tài chính. Do vậy, để vận dụng tốt, lãnh đạo doanh nghiệp nhất thiết
phải đặt chúng trong môi trường cụ thể của hoạt động kinh doanh, đặc điểm
nền kinh tế, đặc điểm ngành kinh doanh và đặc điểm của doanh nghiệp.
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
1.1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới các quyết định về cơ cấu vốn tối ưu của
doanh nghiệp
3. Chính sách cơ cấu vốn bao hàm sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi tức. Sử
dụng thêm nợ là tăng mức độ rủi ro của các dòng thu nhập của doanh nghiệp.
Tuy nhiên hệ số nợ cao dẫn tới mức lợi tức kỳ vọng cao hơn. Cơ cấu vốn tối
ưu tạo nên sự cân bằng tối ưu giữa rủi ro và lợi tức và qua đó tối đa hoá giá cổ
phiếu. Có bốn nhân tố cơ bản tác động tới các quyết định về cơ cấu vốn:
• Rủi ro kinh doanh: đây là rủi ro mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đối
mặt và chống chọi lại nếu muốn tiếp tục phát triển, rủi ro kinh doanh lớn nhất
là ở các doanh nghiệp không sử dụng nợ, việc sử dụng nợ càng ít thì rủi ro
kinh doanh mà chủ doanh nghiệp phải chịu là càng nhiều, hệ số nợ tối ưu của
doanh nghiệp càng thấp.
• Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc sử
dụng nợ do đây là yếu tố tác động đến ưu thế của việc sử dụng nợ, sử dụng nợ
giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí vì lãi vay là khoản
khấu trừ thuế. Vì vậy, thuế suất càng cao thì lợi thế của việc sử dụng nợ đối
với doanh nghiệp càng cao.
• Sự linh hoạt về mặt tài chính. Đó là khả năng huy động vốn với những điều
khoản hợp lý. Mức độ biến động trong tương lại của vốn và hậu quả của việc
thiếu hụt vốn có ảnh hưởng lớn tới cấu trúc vốn mục tiêu.
• Sự thận trọng hay năng động trong quản lý ảnh hưởng tới cơ cấu vốn mục tiêu
mà doanh nghiệp theo đuôi trong thực tế.
4. 1.2. Công cụ huy động vốn bằng trái phiếu
1.2.1. Khái niệm và các loại trái phiếu
5. Trái phiếu là một loại giấy tờ có giá, nó giúp cho người sử dụng nó có
quyền được đòi lại khoản vốn và lãi đối với tổ chức đã phát hành ra nó vào
ngày đáo hạn của trái phiếu. Thông tin về tỉ lệ lãi suất, mệnh giá, ngày đáo
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
hạn,… được ghi trên mặt của tờ trái phiếu. Trái phiếu có thể được mua bán
trên thị trường chứng khoán mà không phụ thuộc vào mệnh giá của nó, thị giá
của trái phiếu được quyết định bởi lãi suất của trái phiếu, loại trái phiếu (trái
phiếu chuyển đổi) và chủ thể phát hành trái phiếu.
Với những doanh nghiệp lớn và có uy tín trên thị trường thì việc phát
hành trái phiếu sẽ ít mạo hiểm hơn là các doanh nghiệp nhỏ. Những công ty
lớn có uy tín sẽ được công chúng, các nhà đầu tư chào đón trái phiếu, càng uy
tín thì càng nhiều người tìm mua trái phiếu, vì họ nghĩ rằng công ty này có
khả năng chi trả khoản vay cùng lãi vay đúng hạn và có thể sinh nhiều lợi
nhuận cho họ trong tương lai (đặc biệt là loại trái phiếu chuyển đổi, nắm giữ
loại trái phiếu này thì nhà đầu tư có thể trở thành cổ đông của doanh nghiệp
trong tương lai ). Ngược lại, việc phát hành của các công ty nhỏ lẻ sẽ gặp
nhiều khó khăn hơn, những công ty này có thể được xếp hạng tín dụng ở mức
thấp, vì thế mà để bù đắp phần rủi ro cho người sở hữu trái phiếu thì lãi suất
của trái phiếu của các công ty này phải cao hơn. Việc phát hành trái phiếu có
đạt hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào mệnh giá, lãi suất, kỳ hạn, thị
trường, thời điểm phát hành…
Mệnh giá của trái phiếu càng cao thì khả năng việc sở hữu nó chỉ dành
cho một số nhà đầu tư có khả năng về tài chính. Tuy nhiên, phải bỏ ra một
khoản tiền lớn để đầu tư vào một doanh nghiệp chưa đáng tin cậy thì rất khó
và vì vậy mà việc phát hành trái phíêu có mệnh giá lớn có phần khó khăn,
mệnh giá nhỏ giúp cho quảng đại các nhà đầu tư có thể nắm giữ trái phiếu đó
một cách dẽ dàng, ít rủi ro hơn.
Lãi suất thể hiện chi phí của việc sử dụng vốn, lãi suất càng cao thì
càng thu hút nhiều nhà đầu tư hơn, tuy nhiên lãi suất cao còn tiềm ẩn rủi ro
lớn, lãi suất cao làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng, ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng vốn. Lãi suất thấp không thu hút được nhà đầu tư, mức lãi
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
suất tối thiểu của một trái phiếu cũng phải cao hơn tỉ lệ lạm phát dự kiến hoặc
phải cao hơn lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại.
Thời điểm phát hành cũng tác động đến sức hút của trái phiếu đối với
các nhà đầu tư. Trong điều kiện nền kinh tế ổn định, lạm phát được kiểm soát
ở mức thấp, thị trường chứng khoán ổn định, lãi suất huy động trên thị trường
thấp, rất thích hợp cho việc phát hành trái phiếu. Phát hàng trái phiếu cũng
phải xem xét tham khảo mệnh giá, lãi suất, của các trái phiếu khác trên thị
trường. Việc phát hành trái phiếu ít khi bị cổ đông cá nhân phản đối, nhưng
một số cổ đông lớn, đặc biệt các pháp nhân, băn khoăn. Với những đơn vị
không có nhu cầu cấp bách về nguồn vốn, việc sử dụng hiệu quả ngay lập tức
một khoản vốn lớn huy động thêm không phải lúc nào cũng thực hiện được.
Mặt khác, tính thanh khoản của trái phiếu so với cổ phiếu kém hơn, việc
chuyển nhượng giữa các trái chủ có thể sẽ không thuận lợi như mong muốn,
nhất là với trái phiếu ghi danh. Dù vậy, trái phiếu chuyển đổi vẫn được xem
như một bước đệm thí điểm đáng tiến hành trong quá trình tăng năng lực tài
chính của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, phát hành trái phiếu là đồng nghĩa doanh nghiệp tăng nợ,
tăng hệ số nợ (nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu) nên khi doanh nghiệp đã có hệ số
nợ cao thì việc phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh
doanh sẽ làm hệ số nợ càng tăng cao và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng thanh toán lãi vay. Dấu hiệu rủi ro tài
chính đã xuất hiện khi doanh nghiệp sử dụng nợ. Trong chính sách tài chính ở
các nước phát triển, hệ số nợ không nên vượt giới hạn nhất định, chính những
tiêu chuẩn đó của sự khôn ngoan, thận trọng về tài chính của các doanh
nghiệp sẽ quyết định những giới hạn sử dụng nợ phát hành trái phiếu ở doanh
nghiệp .
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
Nguồn tài trợ trái phiếu có đặc điểm: Chi phí trả lãi vay ổn định và rất
thấp so với lợi tức cổ phiếu thường, bảo lãnh phát hành với chi phí thấp dễ
bán, không phát sinh quyền quản lý kiểm soát công ty, lãi trái phiếu được
hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính để xác định lợi nhuận trước thuế .
Các loại trái phiếu
6. Trái phiếu có lãi suất cố định: là trái phiếu có ghi mức lãi suất
trên bề mặt của trái phiếu, ngày đáo hạn. Lãi suất cố đinh được sử dụng phổ
biến trong những điều kiện ổn định của thị trường, lạm phát và lãi suất thực ở
các ngân hàng ít biến động, có thể dự đoán được.
7. Trái phiếu có lãi suất thay đổi: là trái phiếu có lãi suất được xác
định trong ngày đáo hạn, dựa vào một lãi suất tham chiếu khác cộng với một
phần lãi suất đã được thoả thuận từ trước, ví dụ: tỷ lệ lạm phát, tốc độ tằng
trưởng GDP, thường được dùng trong các giai đoạn thị trường bất ổn, đến
ngày đáo hạn, lãi suất được xác định.
8. Trái phiếu chuyển đổi : đây là loại trái phiếu đặc bịêt, nó có thể
chuyển đổi thành cổ phiếu theo một tỷ lệ nhất định vào ngày đáo hạn, biến
quyền đòi nợ thành quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp, loại trái
phiếu này thu hút được sự quân tâm đáng kể của các nhà đầu tư và được mua
bán sôi động trên trị trường, thị giá của nó có thể lên xuống cao hơn hoặc thấp
hơn mệnh giá của trái phiếu, đây là phương thức tăng vốn điều lệ thích hợp về
mặt thời gian, song lại không phải chịu áp lực trả cổ tức. Vấn đề là làm sao
xây dựng được phương án phát hành hiệu quả, và thực tế.
9. Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: là loại trái phiếu cho phép
người sở hữu trái phiếu được quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu thường
của doanh nghiệp ở mức giá và khoảng thời gian xác định.
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
10. Trái phiếu có tài sản đảm bảo: là loại trái phiếu được đảm bảo
bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc được sự bảo lãnh của bên thứ ba, thường
là một ngân hàng, công ty tài chính. Các tài sản có giá trị đảm bảo thường là
bất động sản, máy móc thiết bị,… Khi phát hành loại trái phiếu này, doanh
nghiệp hay bên bảo lãnh phải có trách nhiệm duy trì giá trị các tài sản đảm
bảo, một tài sản có thể đảm bảo cho nhiều đợt phát hành, tuy nhiên tổng giá
trị của các đợt phát hành không vượt quá giá trị tài sản đảm bảo.
11. Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: là loại trái phiếu không
được đảm bảo cho việc thanh toán lãi và gốc bằng một tài sản cụ thế nào. Tuy
nhiên, để có thể phát hành loại trái phiếu này, doanh nghiệp cần phải được
đánh giá tín nhiệm, doanh nghiệp càng đạt điểm tín nhiệm càng cao thì càng
có uy tín, lãi suất trái phiếu càng thấp và ngựơc lại.
1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng trái phiếu để huy động vốn
của doanh nghiệp
12. * Ưu điểm:
13. Một trong những lợi ích quan trọng nhất của việc sử dụng trái
phiếu cũng như sử dụng các khoản nợ phải trả lãi khác là việc được hưởng
một khoản khấu trừ do thuế thu nhập doanh nghiệp tạo ra, các khoản lãi vay
do các khoản nợ sinh ra đều được tính vào chi phí, do đó không bị tính thuế,
đối với các khoản cổ tức và chi trả các khoản khác cho các cổ đông thì các
khoản này đều bị tính thuế. Các khoản cổ tức chi trả cho các cổ đông đều nằm
trong khoản lợi nhuận sau thuế, một các so sánh, nếu cổ đông không là trái
chủ và cổ tức là lãi do trái phiếu sinh ra thì khoản thu nhập, lãi trái phiếu,
không bị tính thuế.
14. Sử dụng trái phiếu có một ưu điểm khác là chi phí sử dụng trái
phiếu rẻ hơn so với chi phí vốn chủ sở hữu, hay là lãi suất trái phiếu thường
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22
Chuyên đề thực tập Khoa Tài chính
thấp hơn so với lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư vào sở hữu. Lãi suất thấp hơn
có nghĩa là chi phí bỏ ra để sử dụng một đồng vốn là ít hơn làm tăng thêm thu
nhập cho công t y, làm giá trị công ty cũng tăng theo, cũng chính vì lý do
đó mà khi doanh nghiệp sử dụng trái phiếu để cân đối nguồn vốn của mình,
phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh ít khi ảnh hưởng tới lợi ích của cổ
đông hiện hữu, thậm chí còn làm tăng giá cổ phiếu của công ty nếu sử dụng
được nguồn huy động từ trái phiếu một cách hiệu quả và hợp lý.
15. * Nhược điểm:
16. Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Một công trình nghiên
cứu tại Mỹ cho thấy chi phí phá sản chiếm khoảng 3% thị giá của tất cả các
công ty niêm yết. Nghiên cứu còn cho thấy chi phí “hao mòn” doanh nghiệp
còn cao và nghiêm trọng hơn nhiều. Những công ty có tỷ lệ nợ cao, sẽ "nhát
tay” trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tư. Chúng cũng có khuynh hướng
giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tương lai như chi phí nghiên cứu
và phát triển, huấn luyện, xây dựng thương hiệu. Kết quả là những doanh
nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp. Mức nợ
cao còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp.
Nguy cơ càng cao hơn khi sản phẩm của công ty có vòng đời phục vụ và bảo
hành lâu dài. Một ví dụ rõ nhất là công ty xe hơi Chrysler đã bị giảm 40%
doanh số khi phải đối diện nguy cơ phá sản vì nợ nần vào năm 1979.
17. Ngoài ra công ty có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các
chủ nợ và nhà đầu tư khi công ty sắp phải ngừng họat động để trả nợ. Khi có
nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn ngoan” sẽ tìm cách đầu tư dưới mức.
Tức là họ sẽ tập trung đầu tư vào nhhững dự án, rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp
trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức
ngay lúc này. Trong khi đó những chủ nợ lại muốn công ty đầu tư vào những
SV: Hà Thị Giang Lớp: TCDNA - CĐ22

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét