Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
buộc nhưng được thừa nhận như một khung khổ thảo luận chính thức tại các diễn
đàn của LHQ. Đối với các thiết chế khu vực, CSR cũng đã được Ủy ban châu Âu
chính thức công nhận từ rất sớm: “là việc các doanh nghiệp đưa mối quan tâm về xã
hội và môi trường vào các hoạt động kinh doanh và mối quan hệ của họ với các cổ
đông của mình, trên cơ sở tự
nguyện.”
Mô hình “kim tụ tháp” của Carroll:
CSR đã trở nên phổ biến. Nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về
khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR. Trong số đó, mô hình “kim tự tháp”
của A. Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất:
TỪ TH
I
Ệ
N
ĐẠO ĐỨC
PHÁP LÝ
KINH T
Ế
Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện:
(i) Trách nhiệm kinh tế - tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng
trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động
cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế
căn bản của xã hội. Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng đầu.
Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh
nghiệp.
(ii) Trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản “khế ước”
giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã
hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong
khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản
mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản,
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
5
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
không thể thiếu của
CSR.
(iii) Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận
nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật. Thông thường, luật pháp chỉ có thể
đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới. Hơn
nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”, đúng- sai không rõ
ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được
cụ thể hóa vào luật. Cho nên, tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những
đòi hỏi, chuẩn mực tối
thiểu mà xã hội đặt ra. Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện
cả các cam kết ngoài luật.
Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nhưng lại chính là trung tâm của CSR. Ví
dụ: ngày nghỉ thứ 7, tiền làm thêm giờ, điều kiện lao động, thông tin cho người
tiêu dùng, giá bán thuốc chữa HIV/AIDS, dữ liệu khách hàng, sử dụng nguyên liệu
sạch, thực phẩm biến đổi gen, uy tín với đối tác, quan hệ với cộng đồng, cổ đông
thiểu số, đối thủ cạnh tranh… đều là các vấn đề mở và mức độ cam kết như thế nào
phụ thuộc vào trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp.
(iv) Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài
sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng,
đóng góp cho các dự án cộng đồng… Điểm
khác
biệt
giữa trách nhiệm từ thiện và đạo
đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu họ không thực hiện CSR đến mức độ
này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.
Mô hình trên có tính toàn diện và khả thi cao, có thể được sử dụng làm
khung khổ cho tư duy chính sách của nhà nước về CSR:
Thứ nhất, việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng không những thỏa mãn
cả nhu cầu về lý thuyết “đại diện” trong quản trị công ty, mà còn giải quyết được
những hoài nghi về tính trung thực trong các chương trình CSR của doanh nghiệp. Từ
đó, vấn đề “vì mình” hay “vì người” không còn được đặt ra nữa, bởi hai mục đích đó
là không thể tách rời.
Thứ hai, ranh giới giữa các tầng trong “kim tự tháp” là luôn chồng lấn, tác
động bành trướng lẫn nhau. Việc tuân thủ quy định pháp luật chắc chắn đưa đến các
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
6
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
chi phí kinh tế cho doanh nghiệp. Và quy tắc đạo đức xã hội ngoài luật luôn mở
rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ thống pháp luật,
bắt
buộc
các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội.
Hệ quả của chi phí tuân thủ PL đối với thị
tr
ư
ờ
ng
Môi trường
cạnh
tranh
cao
Môi trường
ít
cạnh
tranh
Chi phí tuân
th
ủ
pháp luật
CAO
Thu hẹp lợi
nhuận
Chuyển vào giá
thành
Tái đầu Năng lực Tiêu Doanh nghiệp cố
tư giảm cạnh tranh dùng giữ vị thế độc
giảm giảm quyền
Nản lòng doanh Ngăn cản doanh
nghiệp mới nghiệp mới
Chi phí tuân thủ pháp luật cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong môi trường có tính cạnh tranh cao, doanh nghiệp sẽ
không thể tăng giá thành mà thu hẹp lợi nhuận của doanh nghiệp để tồn tại. Lợi nhuận
bị thu hẹp sẽ làm doanh nghiệp mất đi khoản tái đầu tư, cũng có nghĩa giảm năng lực
cạnh tranh ngành, đồng thời làm mất tính hấp dẫn của thị trường đó đối với các doanh
nghiệp mới. Trong môi trường tính cạnh tranh còn thấp, doanh nghiệp nắm thế độc
quyền sẽ chuyển toàn bộ chi phí sản xuất tăng thêm vào giá thành. Do đó, có thể nói
chính khách hàng là người trả tiền cho các chi phí tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp,
để bảo vệ lợi ích xã hội của chính mình. Giá tăng lên sẽ làm giảm lượng tiêu dùng.
Trong một môi trường mà doanh số bị thu hẹp, doanh nghiệp độc quyền sẽ càng cố níu
giữ trạng thái của thị trường bằng nhiều cách để ngăn cản các doanh nghiệp mới
Thứ ba, mối quan hệ giữa từ thiện và trách nhiệm xã hội được làm rõ. Trách
nhiệm từ thiện chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm” CSR.
Thứ tư, cân bằng lợi ích của các bên có liên quan được đặt ra như một nội dung
then chốt trong quản trị doanh nghiệp. Người quản lý doanh nghiệp phải điều hòa lợi ích
của các bên liên quan như người lao động, cổ đông, khách hàng, chính quyền, cộng
đồng, chủ nợ, nhà phân phối, nhà cung cấp, báo chí, nhóm lợi ích, hiệp hội ngành
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
7
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
nghề… Mỗi bên liên quan có lợi ích đặc thù ở các mức độ khác nhau đối với các
trách
nhiệm
kinh tế, pháp lý, đạo đức, từ thiện của doanh nghiệp.
Cân bằng lợi ích của các bên liên quan:
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
8
C
ổ
đ
ô
n
g
Chính quyền
Cộng đồng dân cư
Chủ nợ, ngân hàng
Khách hàng
Đối tác, bạn hàng
Công luận, chúng
Đối thủ cạnh tranh
Đ
HĐQT, BGĐ
Người lao động
4.2. Cơ sở thực tiễn việc áp dụng SA 8000
4.2.1. Khái niệm SA 8000
SA 8000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế ban hành năm 1997, đưa các yêu cầu về quản
trị trách nhiệm xã hội nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu. SA 8000 được
Hội đồng công nhận quyền ưu tiên Kinh tế thuộc hội đồng ưu tiên kinh tế (CEP) xây
dựng dựa trên các Công ước của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Công ước của Liên
hiệp quốc và quyền trẻ em và Tuyên bố toàn cầu và Nhân quyền. Hội đồng công nhận
quyền ưu tiên Kinh tế là một tổ chức phi chính phủ, chuyên hoạt động về các lĩnh vực
hợp tác trách nhiệm xã hội, được thành lập năm 1969, có trụ sở đặt tại New York.
Tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho các công ty ở mọi quy mô lớn nhỏ ở cả các
nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển. Tiêu chuẩn SA 8000 là cơ
sở cho các công ty cải thiện được điều kiện làm việc. Mục đích của SA 8000 không
phải để khuyến khích hay chấm dứt hợp đồng với các nhà cung cấp, mà cung cấp hỗ
trợ về kỹ thuật và nâng cao nhận thức nhằm nâng cao điều kiện sống và làm việc. SA
8000 giúp các doanh nghiệp đạt được những gì tốt đẹp nhất: đạt được mục tiêu đặt ra
và đảm bảo lợi nhuận liên tục. Công việc chỉ có thể được thực hiện tốt khi có một
môi trường thuận lợi, và sự ra đời của tiêu chuẩn quốc tế SA 8000 chính là để tạo ra
môi trường đó.
Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội” trong tiêu chuẩn SA 8000 đề cập đến điều
kiện làm việc và các vấn đề liên quan như: Lao động trẻ em; Lao động cưỡng bức;
An toàn sức khoẻ; Tự do hội họp và thoả ước lao động tập thể; Kỷ luật; Thời gian
làm việc; Sự đền bù và Hệ thống quản lý.
1.2. Yêu cầu của bộ tiêu chuẩn SA 8000
SA 8000 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc làm việc trong các công ước
của ILO và Tuyên bố toàn cầu của Liên Hợp Quốc về Quyền con người và Công ước
về Quyền của Trẻ em. Các yêu cầu của tiêu chuẩn bao gồm:
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
9
1. Lao động trẻ em: Không có công nhân làm việc dưới 15 tuổi, tuối tối thiểu
cho các nước đang thực hiện công ước 138 của ILO là 14 tuổi, ngoại trừ các nước
đang phát triển; cần có hành động khắc phục khi phát hiện bất cứ trường hợp lao
động trẻ em nào
2. Lao động bắt buộc: Không có lao động bắt buộc, bao gồm các hình thức lao
động trả nợ hoặc lao động nhà tù, không được phép yêu cầu đặt cọc giấy tờ tuỳ thân
hoặc bằng tiền khi được tuyển dụng vào.
3. Sức khoẻ và an toàn: Đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành
mạnh, có các biện pháp ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến an toàn và sức khoẻ, có đầy
đủ nhà tắm và nước uống họp vệ sinh.
4. Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể: Phản ảnh quyền thành lập và
gia nhập công đoàn và thương lượng tập thể theo sự lựa chọn của người lao động.
5. Phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng
cấp, tôn giáo, nguồn gốc, giới tính, tật nguyền, thành viên công đoàn hoặc quan điểm
chính trị
6. Kỷ luật: Không có hình phạt về thể xác, tinh thần và sỉ nhục bằng lời nói.
7. Giờ làm việc: Tuân thủ theo luật áp dụng và các tiêu chuẩn công nghiệp về
số giờ làm việc trong bất kỳ trường hợp nào, thời gian làm việc bình thường không
vượt quá 48 giờ/tuần và cứ bảy ngày làm việc thì phải sắp xếp ít nhất một ngày nghỉ
cho nhân viên; phải đảm bảo rằng giờ làm thêm (hơn 48 giờ/tuần) không được vượt
quá 12 giờ/người/tuần, trừ những trường hợp ngoại lệ và những hoàn cảnh kinh
doanh đặc biệt trong thời gian ngắn và công việc làm thêm giờ luôn nhận được mức
thù lao đúng mức.
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY LÂM NGHIỆP QUẢNG TÍN
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
10
1. Quá trình hình thành và phát triển công ty
Công ty Lâm nghiệp Quảng Tín tiền thân là Lâm trường Quảng Tín được
thành lập vào năm 1981 thuộc Liên hiệp nông lâm công nghiệp Gia Nghĩa trực thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với nhiệm vụ chính là trồng và bảo vệ rừng.
Đến năm 1986 Lâm trường Quảng Tín được chuyển cho UBND Đăk Lăk quản lý với
chức năng là bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực huyện ĐăkR’Lấp tỉnh Đăk Lăk
(cũ). Đến năm 2004 sau khi có quyết định thành lập tỉnh Đăk Nông thì lâm trường
Quảng Tín được chuyển đổi cho UBND tỉnh Đăk Nông quản lý với chức năng bảo vệ
và phát triển rừng phòng hộ tại huyện ĐăkR’Lấp.
Đến tháng 1/2007 Lâm trường Quảng Tín được chuyển đổi thành Công ty
Lâm nghiệp Quảng Tín với 100% vốn của nhà nước với đội ngũ gần 200 cán bộ công
nhân viên làm công tác quản lý bảo vệ rừng và chế biến lâm sản tại địa phương. Đến
ngày 24/11/2009 được chuyển đổi thành công ty TNHH lâm nghiệp Quảng Tín dưới
sự quản lý của UBND tỉnh Đăk Nông.
2. Lĩnh vực hoạt động
Đến nay Công ty vừa hoạt động trên lĩnh vực trồng và bảo vệ rừng và sản xuất
ra các sản phẩm từ gỗ được tiêu thụ trên thị trường tại địa phương và các khu vực lân
cận. Các sản phẩm của công ty chủ yếu tập trung vào những sản phẩm trang trí nội
thất và đang từng bước mở rộng thị trường xuống các tỉnh Đông Nam bộ và khu vực
Nam Trung bộ như là Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận,
Đà Nẵng….
Về lĩnh vực trồng và bảo vệ rừng: Hiện tại Công ty đang thực hiện giai đoạn
trồng rừng phòng hộ đầu nguồn tại các khu vực thuỷ điện ĐăkR’ Tik và tái trồng rừng
phủ xanh các đồi sau khi đã khai thác. Hiện nay Công ty đã trồng và bảo vệ gần
150ha gồm rừng tự nhiên và rừng trồng.
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
11
Rừng phòng hộ đầu nguồn đang được công ty triển khai trồng mới và tái trồng rừng
Về lĩnh vực chế biến và kinh doanh sản phẩm: Hiện tại Công ty có một phân
xưởng sản xuất đồ gỗ với đội ngũ thợ lành nghề là 56 công nhân, chuyên sản xuất các
sản phẩm đồ gỗ nội thất gia đình và đang từng bước được đầu tư máy móc thiết bị
cũng như mở rộng quy mô sản xuất để cung cấp ra thị trường nhiều sản phẩm hơn và
có chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cũng nhu đáp ứng việc
mở rộng thị trường tiêu thụ trong những năm tới
Những sản phẩm chính của Công ty hiện đang cung cấp ra thị trường:
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
12
Bộ bàn ghế với thiết kế kiểu dáng xưa được khảm trai
Các sản phẩm nội thất cao cấp đang được công ty chú trọng sản xuất
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
13
3. Phương hướng hoạt động của Công ty trong những năm tới
Theo ông Nguyễn Thái Hoà – Giám đốc công ty thì phương hướng hoạt động
trong thời gian tới trong giai đoạn 2011 – 2014 tập trung chủ yếu ở các mặt như:
Về lĩnh vực sản xuất – kinh doanh: công ty đẩy mạnh việc sản xuất và kinh
doanh nhiều mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp nhằm cung cấp ra thị trường những sản
phẩm có chất lượng mà mẫu mã đẹp với nhièu kiểu dáng và kích thước khác nhau,
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của khách hàng tại địa phương và các khu vực phủ cận.
Ngoài ra công ty còn xúc tiến mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra các khu vực có
nhiều tiềm năng như các tỉnh thuộc Đông Nam bộ như: Thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương, Đồng Nai và một số tỉnh thuộc Nam Trung bộ như Đà Nẵng, Bình
Thuận…
Về công tác trồng và bảo vệ rừng: Giai đoạn này công ty đặt ra chỉ tiêu trồng
mới 200ha rừng phòng hộ đầu nguồn và tái trồng rừng tại các khu vực đã khai thác
như ở xã Quảng Tâm, Đăk Nhau, Đăk Ngo,… và triển khai công tác bảo vệ rừng
nguyên sinh tại khu vực rừng quốc gia Nam Cát Tiên. Bên cạnh đó Công ty triển khai
trồng mới phủ xanh đồi tại khu vực xã Hưng Bình, Đăk Sin và không để xảy ra tình
trạng cháy rừng và bị phá hoại rừng tại các khu vực thuộc sự quản lý và kiểm soát
của công ty.
Về chính sách trả lương, khuyến khích người lao động: Trong giai đoạn này
Công ty tiếp tục thực hiện chính sách thu hút người lao động có trình độ và tay nghề
cho Công ty. Thực hiện chính sách lương, thưởng theo hệ thống thang bảng lương
trong quy chế trả lương trả thưởng đã kí kết. Cải thiện chế độ lương, thưởng và có
chế độ phụ cấp thích hợp khuyến khích công nhân làm việc tại các khu vực vùng sâu,
vùng xa.
Ngoài ra công ty còn có chính sách giải quyết việc làm với những lao động
tại chỗ nhằm giải quyết việc làm cho người dân tại địa phương và doanh nghiệp đóng
trụ sở.
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét