Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tình trạng nhầm lẫn với tiengs anh khi học tiếng pháp của sinh viên khối ngoại ngữ trường đại h

2/
Mục đích nghiên cứu:
- Quan sát, tìm hiểu, phân tích thực trạng học Tiếng Pháp của sinh viên ĐHAG để
nắm nguyên nhân, những yếu tố liên quan, ảnh hưởng, làm phát sinh sự nhầm lẫn
ngôn ngữ này với Tiếng Anh.
- Trên cơ sở nắm bắt được những thông tin cần thiết trên, nghiên cứu, suy nghó, đề
xuất những phương pháp, thủ thuật hữu hiệu khắc phục tình trạng nhầm lẫn (như tìm
những điểm giống hay chỉ tương tự, những điểm hơi khác nhau hay trái ngược hoàn
toàn… ) từ đó vươn tới mục tiêu chinh phục, lónh hội nhiều ngôn ngữ ở trình độ ngày
càng cao, nâng cao kỹ năng giao tiếp đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội.
3/
Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể: + Các giáo viên giảng dạy Tiếng Pháp của trường ĐHAG
+ Các sinh viên thuộc các khoá 2 và 3 của khối ngoại ngữ, chuyên
ngành Anh văn trường ĐHAG
- Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng nhầm lẫn với Tiếng Anh khi học Tiếng
Pháp của sinh viên khối ngoại ngữ trường Đại Học An Giang.
4/
Giả thuyết khoa học:
Thông qua việc tìm hiểu tình trạng nhầm lẫn với Tiếng Anh khi học Tiếng Pháp
của sinh viên khối ngoại ngữ trường Đại Học An Giang, trên cơ sở từng bước đi sâu
vào các mặt, các lónh vực như: cách phát âm, cách viết từ vựng, cách chia động từ,
tính từ theo giống, theo ngôi… của Tiếng Pháp đồng thời so sánh với Tiếng Anh ta
sẽ nắm được nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng làm phát sinh vấn đề nghiên
cứu hay nói cụ thể hơn đó là những lầm lẫn, sai sót thường gặp giữa hai ngôn ngữ.
Qua đó có nền tảng vững chắc chỉ dẫn ta tìm ra con đường, những nét riêng biệt,
những thủ thuật phân biệt giúp sinh viên ghi nhớ, ứng dụng, khắc phục một cách
hiệu quả hơn, đạt chất lượng cao hơn khi học Tiếng Pháp nói riêng đặc biệt là làm
phong phú thêm vốn ngôn ngữ của “những người chủ tương lai” của đất nước nói
chung.
5/
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu tình hình học Tiếng Pháp và những lầm lẫn thường gặp với Tiếng Anh
của sinh viên ĐHAG.
- Đề xuất các cách thức, biện pháp, thủ thuật phân biệt nhằm hạn chế, khắc phục
những nhầm lẫn để nâng cao chất lượng học Tiếng Pháp.
- Rút ra một số kết luận và suy luận liên quan đến tình hình giảng dạy và học tập
Tiếng Pháp ở trường ĐHAG.
6/
Giới hạn đề tài:
- Phạm vi: Việc học Tiếng Pháp và những khó khăn, lẫn lộn thường gặp với Tiếng
Anh của sinh viên ngoại ngữ trường Đại Học An Giang.
- Thời gian: từ ngày 01/04/2004 đến ngày 30/06/2004.
- Chọn mẫu điều tra: Những sự hiểu sai, lẫn lộn mà các sinh viên chuyên ngành
Anh Văn trường ĐHAG các khoá 2, 3 ở các lớp 2D, 3D1, 3D2 (105 sinh viên) mắc
2
phải trong các tình huống dễ gây nhầm lẫn thuộc các lónh vực nghiên cứu trong đề
tài (thông qua bảng câu hỏi điều tra).
7/
Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc sách và tài liệu:
+ Tìm các sách, các tài liệu liên quan đến đề tài ở các thư viện như:
 Tài liệu về tâm lý học (xác đònh khái niệm tư duy, trí nhớ và quy luật của
nó, sự quên và cách chống quên, khái niệm về sự nhầm lẫn; xác đònh sự hình thành
kỹ năng, kỹ xảo trong học tập…)
 Tài liệu về giáo dục học (các phương pháp giảng dạy của giáo viên, cách
thức tổ chức dạy học, cái cốt lõi của hoạt động dạy…)
 Các tài liệu, sách về Tiếng Anh, Tiếng Pháp (ngữ pháp, từ vựng, cách phát
âm…)
+ Tiến hành đọc, nghiên cứu, tóm tắt, ghi nhận, photo các kiến thức cần thiết
phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát sư phạm:
+ Thông qua các tiết dạy Tiếng Pháp ở lớp, quan sát, lắng nghe, ghi nhận các
nhầm lẫn gặp phải của sinh viên trong chương trình học và những lỗi sai thường mà
giáo viên lưu ý cho lớp.
+ Lắng nghe, ghi nhận những lời khuyên, thủ thuật, giải pháp khắc phục của giáo
viên, sau đó ghi nhận vào tập.
- Phương pháp điều tra giáo dục:
+ Thiết lập bảng câu hỏi điều tra (nội dung câu hỏi xoáy vào những nhầm lẫn, sai
sót thường mắc phải của sinh viên khi học Tiếng Pháp, cách học của sinh viên, cách
giảng dạy của giáo viên ở lớp… để qua phần giải đáp rút ra được nguyên nhân,
những nhân tố ảnh hưởng, khiếm khuyết trong dạy-học đúc kết thành giải pháp khắc
phục).
+ Tiến hành phân phát cho 105 sinh viên ở các lớp ngoại ngữ thuộc các khoá học
trường ĐHAG đã được học Tiếng Pháp (2D, 3D1, 3D2).
+ Thu thập, xử lý số liệu và sử dụng vào nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn:
Thông qua các phương pháp trên cộng với việc thăm dò, hỏi ý kiến của thầy cô
giảng dạy chuyên môn, sau đó tổng hợp thành những kinh nghiệm (hiện tượng nhầm
lẫn chủ yếu do những nguyên nhân nào?, cách khắc phục ra sao?…) nhằm đạt được
mục đích nghiên cứu.






3
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I/
Cơ sở lý luận:

1.
Lòch sử vấn đề nghiên cứu:
Các từ tiếng Anh và Tiếng Pháp đều được cấu thành bởi hệ thống chữ cái
thuộc ngữ hệ La Tinh. Tuy nhiên, giữa hai ngôn ngữ này có nhiều điểm có lúc khác
biệt, có lúc tương tự dễ tạo nhầm lẫn. Vì là hai ngôn ngữ giao tiếp phổ biến của thế
giới nên từ trước đến nay những sự nhầm lẫn thường gặp này đã trở thành đề tài hấp
dẫn thôi thúc sự đầu tư, tìm tòi nghiên cứu của đông đảo các nhà ngôn ngữ học so
sánh. Tuy nhiên, phần lớn các bài nghiên cứu đều có phạm vi rất rộng, nêu lên cái
nhìn tổng quát hoặc thiên nhiều về lý thuyết chưa thật sự đi sâu vào những khía cạnh
cụ thể. Tiêu biểu như:
- “Tự học và sử dụng ngoại ngữ” của Nguyễn Duy Côn chỉ trả lời những
câu hỏi liên quan đến việc so sánh hai ngôn ngữ Anh-Pháp về nhiều phương diện
như: Đã biết một ngoại ngữ mà tiếp tục học các tiếng khác thì có thuận lợi hơn
không?, Đã biết tiếng Anh học Tiếng Pháp có nhiều thuận lợi không?, Trong tương
lai, ít sử dụng Tiếng Pháp vì tiếng Anh phổ cập hơn, đúng không?, Tại sao Tiếng
Anh và Tiếng Pháp có nhiều từ viết giống nhau thế? Bên cạnh đó, tác giả nêu một
số từ vựng thường tạo sự nhầm lẫn (Những người bạn giả dối tiếng Anh-Pháp) và
những mẫu thư tín ở hai ngôn ngữ Anh và Pháp…
- “Từ điển tâm lý lâm sàng Pháp-Anh-Việt” của Lê Văn Luyện nêu ra hệ
thống gần 5000 từ vựng chỉ về tâm lý học để người đọc thấy được sự khác nhau về
hình thức từ ở lónh vực này của cả ba ngôn ngữ.
- “Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt-Anh-Pháp” của Dương Văn Quảng-
Vũ Dương Huân nêu ra hệ thống từ vựng ở cả ba ngôn ngữ liên quan đến việc giao
tiếp trong và ngoài nước…
- Đặc biệt, “Tiếng Pháp hướng dẫn tự học” của Suzanne A.Hershfield-
Haims -Nhóm biên dòch Nhân Văn-nêu vài điểm khác biệt giữa Anh-Pháp về cách
phát âm (trang đầu), các mạo từ (trang 1), cách thành lập so sánh hơn, so sánh nhất
(trang 168), tính từ (trang 216), trạng từ (trang 217). Tuy nhiên, sách chỉ thể hiện sự
khác nhau mà không đi sâu nghiên cứu những khả năng gây ra nhầm lẫn về các mục
này để người học rút kinh nghiệm hoặc tránh mắc phải.
Do vậy, từ những điểm còn hạn chế đó đã tạo động lực thôi thúc tôi nghiên cứu
đề tài này dựa trên chương trình học của sinh viên khối ngoại ngữ trường ĐHAG
nhằm giúp sinh viên có cái nhìn thật rõ về đặc điểm của từng ngôn ngữ, qua đó đạt
chất lượng cao hơn trong học tập.

2. Một số lý thuyết cần nắm vững:
Để học tốt, đặc biệt là lónh hội ngoại ngữ đạt chất lượng cao đòi hỏi bản thân
chúng ta phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn như: siêng năng học tập, có tinh thần tiếp
4
thu học hỏi, không ngại khó khăn… Bên cạnh đó, không thể không kể đến một số
yếu tố hết sức quan trọng là: khả năng tư duy, trí nhớ, sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo
trong học tập để thôi thúc, phát huy sự thông minh, tính sáng tạo, nhạy bén ở người
học. Thật vậy, để đạt đến đỉnh cao lónh hội nói chung và cụ thể ở đây là tránh được
những sai sót, nhầm lẫn khi học hai ngôn ngữ Anh và Pháp cùng lúc, người học cần
bước đầu nắm vững các khái niệm, đặc điểm, điều kiện, các quá trình hình thành cơ
bản của tư duy, trí nhớ, kỹ năng, kỹ xảo… cũng như về sự nhầm lẫn Anh-Pháp và
những lời giải đáp cho những câu hỏi xoay quanh vấn đề này như sau:

• Tư duy và các đặc điểm của tư duy (trích dẫn tài liệu Tâm Lý học đại cương
do Lê Thanh Hùng biên soạn):
a) Đònh nghóa:
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta
chưa biết.
b) Đặc điểm của tư duy:
- Hoàn cảnh có vấn đề là đối tượng của tư duy.
- Tư duy sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện.
- Tư duy phản ánh khái quát sự vật, hiện tượng.
- Tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp.
- Tư duy không tách rời nhận thức cảm tính.
c) Các thao tác tư duy:
- Thao tác phân tích-tổng hợp.
- Thao tác so sánh.
- Thao tác trừu tượng hóa-khái quát hóa.

• Trí nhớ – các quá trình cơ bản của trí nhớ và quy luật diễn biến của chúng
(trích dẫn tài liệu Tâm Lý học đại cương do Lê Thanh Hùng biên soạn):
a) Trí nhớ:
Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân
dưới hình thức biểu tượng-hình ảnh sự vật, hiện tượng được nảy sinh trong óc chúng
ta khi không còn sự tác động của chúng.
b) Vai trò của trí nhớ:
- Nhờ trí nhớ mà ta tích lũy được kinh nghiệm sống.
- Nhờ nhận lại và nhớ lại mà ta có thể đem kinh nghiệm sống ứng dụng
vào thực tế.
- Không có trí nhớ ta không thể xác đònh được phương hướng thích nghi
với mọi giới.
- Không có trí nhớ trong học tập thì ta không thể tư duy được.


5

c) Các quá trình cơ bản của trí nhớ và quy luật diễn biến của chúng:
c.1
Quá trình ghi nhớ: là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động nhớ cụ thể
nào đó là quá trình hình thành dấu vết của đối tượng mà ta đang tri giác trên vỏ não.
Có các loại:
- Ghi nhớ không chủ đònh: không có mục đích từ trước, không đòi hỏi sự
nổ lực nào của ý chí mà dường như thực hiện một cách tự nhiên.
- Ghi nhớ có chủ đònh: theo mục đích từ trước, có sự cố gắng cũng như
những thủ thuật và phương pháp ghi nhớ xác đònh.
+ Ghi nhớ máy móc: dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều lần (tài liệu) một
cách đơn giản.
+ Ghi nhớ ý nghóa: dựa trên sự thông hiểu nội dung tài liệu. Loại ghi
nhớ này gắn liền với tư duy con người.
- Học thuộc lòng và thuật nhớ:
+ Học thuộc lòng là sự kết hợp ghi nhớ ý nghóa với ghi nhớ máy móc
dựa trên sự thông hiểu tài liệu.
+ Thuật nhớ: ghi nhớ có chủ đònh bằng cách tạo ra mối liên hệ bề
ngoài để ghi nhớ.
c.2
Quá trình gìn giữ: là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã hình
thành được trên vỏ não trong quá trình ghi nhớ.
c.3
Quá trình nhận lại và nhớ lại:
- Nhận lại: là sự nhớ lại một đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác
lại đối tượng đó.
- Nhớ lại: là sự tái hiện lại sự vật, hiện tượng trong óc khi không gặp lại
chúng.
c.4
Quên và cách chống quên:
- Quên: là biểu hiện không nhận lại hay nhớ lại được hoặc nhận lại, nhớ
lại sai.
Sự quên thường diễn ra theo các quy luật sau:
+ Thường quên những cái không hoặc ít có quan hệ với đờùi sống của
mình.
+ Có trường hợp quên là sự cần thiết cho cá nhân.
+ Tốc độ quên phụ thuộc:
 Khi gặp kích thích mạnh hay kích thích mới lạ.
 Quên nhanh ngay sau khi học và giảm dần về sau.
 Nhòp độ quên phụ thuộc vào nội dung và khối lượng tài liệu.
- Cách chống quên:
+ Tiến hành ôn tập ngay sau khi học.
+ Giảng dạy chống nhồi nhét, ghi nhớ có điểm tựa.
+ Không nên ôn tập hai tài liệu liên tiếp gần nhau.
+ Vận dụng nhiều giác quan tham gia vào ôn tập.
6
+ Ôn tập thường xuyên.
+ Ôn tập phải kết hợp với thực hành, luyện tập.
+ Ôn tập phải kết hợp với nghỉ ngơi.

• Sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong học tập (trích dẫn tài liệu Tâm lý học
lứa tuổi và tâm lý học sư phạm do Đỗ Văn Thông biên soạn):
a) Sự hình thành kỹ năng:
a.1
Kỹ năng:
Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề.
Kỹ năng phải dựa trên cơ sở lý thuyết.
a.2
Đặc điểm:
- Mức độ tham gia của ý chí rất cao, phải tập trung chú ý cao.
- Người ta chưa bao quát được toàn bộ hành động mà thường chỉ chú ý
vào một phạm vi hẹp hay các động tác đang tìm.
- Hành động luôn có sự kiểm tra của thò giác.
- Hành động còn có nhiều tác động thừa, tốn nhiều năng lượng thần kinh
và cơ bắp mà năng suất thì không cao.
- Hành động còn chòu ảnh hưởng không có lợi của những kỹ xảo cũ.
a.3
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng:
- Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hoá rõ ràng hay
bò che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy.
- Tâm thế và thói quen.
- Khả năng khái quát nhìn đối tượng một cách toàn thể.
a.4
Sự hình thành kỹ năng:
Thực chất của sự hình thành kỹ năng là hình thành cho học sinh nắm
vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông
tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với hành động cụ
thể.
Khi hình thành kỹ năng cho học sinh cần chú ý:
- Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải
tìm và mối quan hệ giữa chúng.
- Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài
tập, các đối tượng cùng loại.
- Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các
kiến thức tương ứng.
b) Sự hình thành kỹ xảo:
b.1
Kỹ xảo: là hành động tự động hóa nhờ luyện tập.


b.2
Đặc điểm:
7
- Kỹ xảo không bao giờ thực hiện đơn độc, tách rời khỏi hành động có ý
thức phức tạp.
- Mức độ tham gia của ý thức ít, thậm chí có khi cảm thấy không có sự
tham gia của ý thức.
- Không nhất thiết theo dõi bằng mắt, mà kiểm tra bằng cảm giác vận
động.
- Động tác thừa, phụ bò loại trừ, những động tác cần thiết ngày càng
chính xác, nhanh và tiết kiệm, hành động tốn ít năng lượng và kết quả.
- Thống nhất giữa tính ổn đònh và tính linh hoạt, có nghóa là kỹ xảo
không nhất thiết gắn liền với một đối tượng hay tình huống nhất đònh. Kỹ xảo có thể
di chuyển dễ dàng tùy theo mục đích và tính chất chung của hành động.
b.3
Điều kiện để hình thành kỹ xảo:
Củng cố là điều kiện hình thành kỹ xảo, nhưng củng cố không phải là
việc làm cơ giới mà là quá trình điều chỉnh, rút kinh nghiệm, hợp lý hoá, tối ưu hoá.
Để hình thành kỹ xảo cần đảm bảo các bước cơ bản sau:
+ Một là, phải làm cho học sinh hiểu biện pháp hành động. Điều quan
trọng là giúp học sinh ý thức được các thủ thuật then chốt từng khâu, từng lúc và tùy
hoàn cảnh.
+ Hai là, luyện tập. Khi luyện tập cần đảm bảo các điều kiện:
 Làm cho học sinh biết chính xác mục đích của luyện tập.
 Thường xuyên kiểm tra, theo dõi.
 Đủ số lần luyện tập.
 Bài tập phải là một hệ thống xác đònh, theo một sự kế tục hợp
lý, có kế hoạch rõ ràng và phức tạp hóa dần.
 Quá trình luyện tập không được ngắt quãng trong một thời gian
dài.
+ Ba là, tự động hóa. Sau khi hành động được mô hình hóa, quá trình
thực hiện được điều chỉnh, sửa đổi, loại bỏ những động tác thừa và lúc này hành
động có sự thay đổi về chất. Hành động này có những tính chất sau:
 Bao quát hơn, bớt dần mục tiêu bộ phận.
 Động tác mang tính chất khái quát, không có động tác thừa.
 Điêu luyện, giảm dần sự tham gia của ý thức, có lúc không cần
sự có mặt của ý thức.
 Tốc độ nhanh, chất lượng cao và duy trì kết quả đều đặn.
 Chuyển vào một khâu của hành động phức tạp và đạt tiêu chuẩn
nhuần nhuyễn cao.
Chính lúc đó kỹ xảo được hình thành, hành động đã được tự động hóa.


• Quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ (trích dẫn tài liệu Tâm lý học
lứa tuổi và tâm lý học sư phạm do Đỗ Văn Thông biên soạn):
8
Dạy học và phát triển trí tuệ có quan hệ chặt chẽ với nhau (dạy học tạo điều
kiện cho trí tuệ phát triển, phát triển trí tuệ dựa trên cơ sở dạy học).
Trong quá trình dạy học có sự biến đổi thường xuyên vốn kinh nghiệm của học
sinh, số lượng và chất lượng của hệ thống tri thức, các năng lực người dẫn đến những
năng lực trí tuệ của học sinh cũng được phát triển bởi vì:
- Trong quá trình nắm tri thức, học sinh phải xây dựng cho mình những hệ
thống hành động trí tuệ sao cho phù hợp với hệ thống tri thức đó. Khi hệ thống hành
động trí tuệ này được củng cố, khái quát tạo thành những kỹ xảo của hoạt động trí
tuệ giúp cho học sinh có khả năng di chuyển rộng rãi và thành thạo các phương pháp
hoạt động trí tuệ từ đối tượng này sang đối tượng khác để nhận thức và cải tạo chúng
được xem như một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển trí tuệ.
- Ngoài ra, trong quá trình nắm tri thức, những mặt khác của năng lực trí tuệ
như: óc quan sát, trí nhớ, tưởng tượng cũng được phát triển. Do đó, việc dạy học là
một trong những con đường cơ bản để giáo dục và phát triển trí tuệ một cách toàn
diện.
- Việc nắm vững tri thức không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực trí
tuệ, mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nhân cách con người như: nhu cầu nhận thức,
hứng thú học tập, động cơ học tập, khát vọng tìm tòi, v.v…
Ngược lại, trí tuệ nói riêng và các chức năng tâm lý khác nói chung được phát
triển lại có ảnh hưởng trở lại đến quá trình dạy học, quá trình lónh hội tri thức. Nhờ
quá trình phát triển các năng lực trí tuệ, ở học sinh đã nảy sinh những khả năng mới
giúp các em nắm kiến thức tốt hơn, đảm bảo chất lượng cao của việc học tập.
Trong quá trình dạy học, việc nắm vững tri thức và phát triển trí tuệ tác động
qua lại hết sức chặt chẽ với nhau. Sự phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là điều
kiện của việc nắm vững tri thức.
Do đó, có thể nói chất lượng, cách thức, phương pháp giảng dạy hiệu quả sẽ
hỗ trợ, góp phần vun đắp, tạo nên sự phát triển trí tuệ, sự lónh hội thành công trong
học tập hạn chế những biểu hiện không tích cực ở người học như: sự nhầm lẫn, hiểu
sai, hiểu chưa đúng…

• Vài nét về Tiếng Anh, Tiếng Pháp :
1. Vai trò: Tiếng Anh và Tiếng Pháp cần cho mọi thế hệ, đó là những ngôn
ngữ phổ biến, những công cụ không thể thiếu được trong hành trang của các bạn trẻ,
những phương tiện giao tiếp quan trọng giữa các dân tộc trên thế giới. Cùng với tin
học, việc học hai ngoại ngữ này trở thành tiêu chuẩn khi tuyển chọn nhân viên trong
các thành phần kinh tế. Đồng thời nó giúp ta có khả năng tự chủ trong giao tiếp, học
hỏi, kinh doanh… góp phần tạo ra nguồn nhân lực trực tiếp tham gia lao động sản
xuất phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
2. Ý nghóa: thông qua việc học hai ngoại ngữ, chúng ta có điều kiện :
- Tiếp cận những thông tin khoa học-kỹ thuật hiện đại, những sự kiện quốc
tế…
9
- Nâng cao hiểu biết về ngôn ngữ, đất nước, con người và nền văn hoá của
một số nước nói Tiếng Anh, Tiếng Pháp.
- Phát triển trí tuệ, nhân cách và phương pháp học tập hỗ trợ cho các môn
học khác và phát triển năng lực chuyên môn của cá nhân sau này.

• Khái niệm sự nhầm lẫn và sự nhầm lẫn giữa tiếng Anh và tiếng Pháp:
a) Sự nhầm lẫn: là sự sai lệch, không đúng đắn trong tư duy, suy nghó do
không thể phân biệt đối tượng cần chiếm lónh với một hay nhiều đối tượng khác đã
biết do giữa chúng có những điểm tương tự, tương đồng…
b) Sự nhầm lẫn giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp:
Thường bắt nguồn từ sự nắm chưa vững, chưa thể phân biệt rõ ràng những
nét có lúc khác biệt hoàn toàn có lúc lại tương tự, tương đồng giữa hai ngôn ngữ
cùng hệ La Tinh này dẫn đến việc lẫn lộn, áp dụng những quy luật, ngữ pháp… của
ngôn ngữ này vào ngôn ngữ khác gây ra sự sai lệch, không đúng đắn trong việc học
và sử dụng ngoại ngữ.

• Những dạng nhầm lẫn thường gặp giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp:
Do cùng ngữ hệ La Tinh nên giữa hai ngôn ngữ này có những nét giống,
tương tự nhau có thể nhận thấy rất rõ nhưng bên cạnh đó chúng có những đặc trưng
riêng mà nếu không tìm hiểu, phân biệt rõ ràng chúng ta sẽ dễ mắc những sai lầm
có lúc nhỏ nhặt nhưng có lúc lại nghiêm trọng phụ thuộc vào mức độ khác nhau giữa
chúng (khác biệt vài điểm hay khác biệt hoàn toàn…). Ở đây, trong bài nghiên cứu
này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số nhầm lẫn phổ biến về các vấn đề sau: cách phát
âm, danh từ, tính từ, động từ, tính từ sở hữu, trạng từ, “c’est” hay “il est”.

Khi lónh hội hai ngôn ngữ này cùng lúc, người học không thể tránh khỏi những
thắc mắc, trăn trở. Sau đây là hai câu hỏi phổ biến cùng lời giải đáp (được chọn lọc
từ quyển Tự học và sử dụng ngoại ngữ của Nguyễn Duy Côn) sẽ giúp ta có thể hiểu
rõ hơn mối liên quan giữa hai ngôn ngữ rất dễ nhầm lẫn này:

• Tại sao Tiếng Anh và Tiếng Pháp lại có nhiều từ viết giống nhau?
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu sơ lược nguồn gốc của Tiếng Anh và
Tiếng Pháp. Chúng đều thuộc họ các ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European family). Tuy
nhiên, Tiếng Anh lại thuộc nhánh các ngôn ngữ Giecman (Germanic languages)
gồm các tiếng Bắc Âu, Đức, Hà Lan…, còn Tiếng Pháp lại thuộc nhánh Roman
(Romance languages) gồm các tiếng dẫn xuất từ tiếng La tinh dân gian thời đế chế
La Mã như Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani… Về lòch sử, năm 1066, người
Norman ở Pháp xâm chiếm Anh và đưa Tiếng Pháp vào Anh, nhập với tiếng gốc
Anglo-Saxons (gốc thổ âm Giecman) dần dần tạo thành tiếng Anh. Về đòa lý, nước
Anh chỉ cách nước Pháp bằng eo biển Manche. Vì vậy, quan hệ Anh, Pháp rất gần
10
gũi và hai ngôn ngữ này ảnh hưởng nhau rất nhiều, thậm chí có một bộ phận rất
giống nhau. Đại thể có những điểm tương đồng, dò biệt sau:
- Viết giống hay gần giống Tiếng Anh có nghóa như nhau. Loại này
thuận lợi cho người tự học tiếng nước này khi biết tiếng nước kia.
- Viết giống hay gần giống Tiếng Anh có nghóa như nhau hoặc có nghóa
khác nhau. Loại này khi sử dụng phải cẩn thận.
- Viết giống hay gần giống Tiếng Anh có nghóa khác nhau. Loại này gây
nhiều sự sai sót, nhầm lẫn cho người học.

• Khi đã biết Tiếng Anh, học Tiếng Pháp có nhiều thuận lợi không?
Câu trả lời là có nhiều thuận lợi. Nếu biết Tiếng Anh thì học Tiếng Pháp
không mấy khó khăn. Cái lợi rõ ràng nhất là có thể biết trước được những từ viết
giống nhau hoặc gần giống nhau do chúng cùng họ La Tinh. Hơn nữa, vì những lý do
đòa lý và lòch sử, quan hệ Anh-Pháp rất gần gũi, do đó ngôn ngữ cũng ảnh hưởng lẫn
nhau rất sâu đậm. Tuy nhiên đây cũng là “cái bẫy” khiến nhiều người bò mắc sai
lầm hay nhầm lẫn vì sự không hoàn toàn giống nghóa của một số cặp từ và những
điểm ngữ pháp khác nhau giữa Anh-Pháp.

Ngoài ra, sự vững vàng về chuyên môn, sự linh hoạt trong giảng dạy cũng góp
phần không nhỏ vào chất lượng học tập. Do đó, người giảng dạy cần nắm một số
kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học ngoại ngữ như sau:
- Gây cho người học hứng thú và có hiểu biết khái quát ngay từ đầu về thứ
tiếng họ chọn lọc.
- Làm cho người học tự tin là họ có thể học tập tốt.
- Làm cho người học biết rằng muốn học ngoại ngữ thì phải trau dồi Tiếng
Việt.
- Làm cho học viên hiểu được cái khác cơ bản của ngoại ngữ so với Tiếng
Việt.
- Nêu được cái hay của ngoại ngữ đang học và những cái khó nhưng có biện
pháp khắc phục để sinh viên không nản.
- Vạch cho người học một kế hoạch thời gian, tư vấn về tài liệu tối thiểu cần
có, căn cứ vào khả năng tiếp thu ngoại ngữ của họ.

II/
Kết quả khảo sát:

1)
Đặc điểm tình hình trường ĐHAG:
1.1 Tình hình chung
- Ban Giám Hiệu và các phòng ban phối hợp chặt chẽ, hoạt động hiệu quả.
- Trường có quy mô lớp học, giảng đường rộng rãi, đủ tiện nghi phục vụ
hiệu quả cho việc học.
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét