Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần xây lắp Bưu Điện

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
khác nhau. Do vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu tổ chức quản lý, tổ chức
thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể, có
như vậy việc sản xuất thi công mới mang lại hiệu quả cao và bảo đảm cho sản xuất
được liên tục.
Do sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc và được sản xuất theo đơn đặt hàng
nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công
trình,kể cả khi công trình thi công theo thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở
những địa điểm khác nhau. Vì thế tập hợp các chi phí sản xuất, tính giá thành sản
phẩm cũng được tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt.Thông thường, đối
tượng tập hợp chi phí và tính giá thành là các công trình, hạng mục công trình .
- Sản phẩm xây lắp thường có qui mô lớn cả về kích thước lẫn tiền vốn, thời
gian thi công rất dài, có công trình phải xây dựng hàng chục năm mới xong. Trong
thời gian thi công chưa tạo ra sản phẩm nhưng lại sử dụng nhiều vật tư tiền vốn.
Do đó, khi lập kế hoạch xây dựng cơ bản cần cân nhắc, thận trọng theo dõi chặt
chẽ quá trình thi công, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, bảo đảm chất lượng công
trình. Do thời gian thi công dài các doanh nghiệp xây lắp và chủ đầu tư không thể
chờ đến khi xây dựng xong mới tính toán và thanh toán. Chính vì thế,căn cứ vào
dự toán, tiến độ thi công và biên bản bàn giao khối lượng xây lắp hoàn thành, bên
A (chủ đằu tư) sẽ thanh toán cho bên B (bên nhận thi công).
Các công trình xây lắp thường có thời gian sử dụng dài nên mọi sai lầm
trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại. Sai lầm trong
XDCB vừa gây lãng phí vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó
khắc phục. Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường xuyên
kiểm tra giám sát chất lượng công trình, tránh phát sinh thêm chi phí ngoài dự
toán.
- Sản phẩm xây lắp được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây dựng luôn thay đổi
theo địa bàn thi công. Nó chịu tác động của nơi xây dựng công trình về các mặt
như giá vật liệu tại chân công trình, giá nhân công, Mặt khác việc xây dựng còn
chịu tác động của địa chất, thuỷ văn, kết hợp với các yêu cầu về phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Khi công trình hoàn thành, điều đó có
nghĩa người công nhân sẽ không còn việc gì ở đó nữa, phải chuyển đến thi công ở
một công trình khác. Do đó sẽ phát sinh các chi phí như điều động công nhân, máy
móc thi công, chi phí xây dựng tạm thời cho công nhân và cho máy móc thi công.
Đặc điểm này khiến cho các đơn vị xây lắp thường sử dụng lực lượng lao động
thuê ngoài tại chỗ nơi thi công công trình để giảm bớt các chi phí khi di dời.
- Sản phẩm của ngành xây lắp hoàn thành không nhập kho mà thường được
tiêu thụ trước khi tiến hành sản xuất theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ
đầu tư. Do đó tính chất hành hoá của sản phẩm thể hiện không rõ. Giá thành công
TRẦN THU QUYÊN 5 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị bản thân thiết bị do chủ đầu tư đưa vào
để lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp bỏ ra có liên
quan đến xây lắp công trình. Bao gồm giá trị vật kết cấu, giá trị thiết bị: ống nhựa,
ống sắt, xi măng,sắt, thép, nắp đan, cột,
Trong nền kinh tế thị trường,lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng
phương pháp đấu thầu và đây thực sự là vấn đề cạnh tranh gay gắt giữa các doanh
nghiệp. Vì vậy, để trúng thầu các doanh nghiệp xây lắp phải xây dựng được giá
tham gia đấu thầu vừa hợp lý trên cơ sở các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản do
Nhà nước ban hành, vừa phải xem xét đến giá mang tính cạnh tranh dựa trên cơ sở
giá cả thị trường và khả năng của doanh nghiệp về tổ chức quản lý, tiến độ thi
công. Đặc biệt là việc phấn đấu hạ chi phí đảm bảo việc nếu nhận thi công công
trình phải có lãi. Chính vì cạnh tranh quá mạnh mẽ như thế, khiến cho một số
doanh nghiệp xây lắp đã xây dựng giá nhận thầu thấp, để thắng thầu hoặc là cắt
bớt chi phí trong quá trình thi công. Đây thực sự là một biểu hiện sai trái mà các
cấp, các ngành, các đơn vị chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây lắp cần phải lựa
chọn kỹ các đơn vị đấu thầu, và kiểm tra giám sát chặt chẽ trong quá trình thi
công.
Qua các đặc điểm trên đòi hỏi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp xây lắp phải tổ chức quản lý chặt chẽ các yếu tố đầu vào đồng thời
phải tổ chức công tác kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu
cầu quản lý. Đặc biệt đối với công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm phải tính đúng, tính đủ chi phí, phải xác đinh chính xác giá thành
sản phẩm xây lắp hoàn thành, từ đó cung cấp thông tin tài liệu cần thiết để phân
tích tình hình thực hiện dự toán giá thành sản phẩm, đáp ứng nhu cầu quản lý và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Yêu cầu quản lý, vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
1.1.2.1. Yêu cầu quản lý và vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp.
Sự ra đời và quá trình phát triển của kế toán gắn liền với sự ra đời và phát
triển sản xuất của cải vật chất của xã hội. Nền sản xuất của xã hội càng phát triển
thì kế toán càng trở nên quan trọng. Với chức năng thu thập, xử lý, cung cấp thông
tin về tình hình tài sản, tình hình hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp, kế
toán trở thành công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu. Trong nền kinh tế thị trường, kế
toán được coi như “nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp” (theo khái niệm về
kế toán của Liên đoàn kế toán quốc tế), hay “kế toán là ngôn ngữ của việc kinh
doanh” (theo Giáo sư, tiến sĩ Robert Anthony - Đại học Harvard). Kế toán là công
cụ hạch toán chính xác các chi phí sản xuất thông qua tổ chức ghi chép, tính toán,
TRẦN THU QUYÊN 6 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
phản ánh và giám đốc thường xuyên liên tục chi phí đã chi ra cho quá trình sản
xuất. Trong khi đó chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế
quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm, vì chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Vì thế mà kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có vị trí quan
trọng, đóng vai trò trung gian trong toàn bộ công tác kế toán doanh nghiệp, và có ý
nghĩa quyết định trong việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Nhờ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể nhanh chóng, kịp
thời, cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, các chủ doanh nghiệp có thể nắm được
tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, lao động tiền vốn ở từng đơn
vị, từng công trình và từ đó có thể thực hiện công tác quản lý việc hoàn thành
nhiệm vụ hạ giá thành, đồng thời có thông tin để đánh giá mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố đến nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm. Đây là những thông tin hết sức
quan trọngđối với công tác chỉ đạo và phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Đồng thời trên cơ sở đó khai thác thế mạnh, tiềm năng để khắc phục những
mặt yếu kém, nâng cao năng suất lao động, hạ bớt chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm.
Chính vì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm luôn là các chỉ tiêu kinh tế
quan trọng, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh được các nhà quản
lý hết sức quan tâm, nên công tác tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm luôn là nội dung cơ bản, trọng tâm của toàn bộ tổ chức công tác kế toán
trong doanh nghiệp và nó giữ những vai trò rất quan trọng:
- Kế toán chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm cung cấp
thông tin về tình hình chi phí sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm giúp các
nhà quản lý kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ và kiểm soát việc sử dụng chi phí nhằm
nâng cao hiệu quả của chi phí, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong quản lý.
- Kế toán giúp các nhà quản lý nắm được chi phí sản xuất kinh doanh và giá
thành thực tế của từng loại sản phẩm, từng công trình, từng hoạt động và của từng
bộ phận để xác định chi phí cần bù đắp để thực hiện tái sản xuất, để phân tích đánh
giá tình hình thực hiện các định mức chi phí, dự toán chi phí và kế hoạch giá
thành.
- Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn giúp các nhà quản
lý tính toán, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp.
TRẦN THU QUYÊN 7 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Để phát huy vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp xây lắp, tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất của
doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tính
giá thành đúng đắn và phù hợp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương pháp thích hợp đã chọn, cung
cấp kịp thời những số liệu, thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí và yếu tố
chi phí quy định .
- Xác định phương pháp kế toán và quy nạp các chi phí vào các đối tượng
một cách thích ứng với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đáp ứng
yêu cầu kiểm soát tập hợp chi phí và kiểm tra các dự toán, các định mức chi phí .
- Lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, phương pháp tính giá
thành sản phẩm đảm bảo tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm hoàn thành.
- Định kỳ cung cấp báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành cho lãnh đạo
doanh nghiệp và tiến hành phân tích tình hình thực hiện các kế hoạch giá thành,
phát hiện kịp thời các khả năng tiềm tàng đề xuất biện pháp thích hợp để phấn đấu
không ngừng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
* Sự cần thiết tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp xây lắp:
Ngày nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương thức
đấu thầu xây dựng. Chính vì thế mà các sản phẩm xây lắp thường được xác định
giá trị ngay từ đầu. Vậy công việc xác định giá trị xây lắp để có thể tiến hành tham
dự đấu thầu, doanh nghiệp xây lắp phải tiến hành tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Thêm vào đó trong quá trình thi công do đặc điểm của các sản phẩm xây lắp
có khối lượng lớn, chi phí phát sinh liên quan đến nhiều, có tính đơn chiếc chính vì
thế mà cần thiết phải tiến hành theo dõi tập hợp chi phí sau đó tính giá thành sản
phẩm để có thể so sánh được với giá trị xây lắp đã được dự toán từ đầu.
Chính vì thế phải khẳng định rằng, trong doanh nghiệp xây lắp thì việc tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hết sức cần thiết giúp cho lãnh
đạo công ty có thể bám sát tình hình thực tế để đưa ra được các quyết định nhanh
chóng phù hợp và đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm mà các sản phẩm đó vẫn đảm bảo chất lượng nâng cao uy tín của doanh
nghiệp trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra như vũ bão
1.2. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
TRẦN THU QUYÊN 8 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
1.2.1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1.1. Khái niệm, bản chất kinh tế của chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp xây lắp.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp là quá trình biến
đổi các yếu tố về tư liệu sản xuất, đối tượng lao động (biểu hiện cụ thể là các hao
phí về lao động vật hoá) với sự tác động có mục đích của sức lao động (biểu hiện
là hao phí về lao động sống) sẽ trở thành các sản phẩm, công trình Qua quá trình
sản xuất sản phẩm xây lắp cũng là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố
đó. Chính vì vậy, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo nên giá trị sản
phẩm xây lắp là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của
người sản xuất.
Như vậy, ta có thể hiểu chi phí sản xuất kinh doanh trong xây dựng cơ bản
là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất, thi công và bàn giao
sản phẩm xây lắp trong một kỳ nhất định. Trong đó chi phí về lao động sống gồm:
Chi phí tiền lương, trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Chi
phí về lao động vật hoá gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí khấu hao tài
sản cố định,
Tuy nhiên trên góc độ quản lý khác nhau sẽ có các cách thể hiện, cách hiểu
khác nhau về chi phí sản xuất:
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Chi phí sản xuất kinh doanh là tổng số
tiền phải bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế
cho doanh nghiệp.
- Đối với kế toán: chi phí sản xuất kinh doanh luôn gắn kiền với một kỳ sản
xuất kinh doanh nhất định và các chi phí đó phải là chi phí thực.
Trong doanh nghiệp xây lắp ta cần phải xem xét kỹ đâu là chi phí thực, vì
thế cần phải phân biệt hai khái niệm và chi tiêu(expenditure) và chi phí (expense).
Chi tiêu là sự hao phí vật chất tại một thời điểm tiêu dùng. Nói cách khác,
chi tiêu của doanh nghiệp trong kỳ gồm: chi tiêu mua sắm nguyên vật liệu hàng
hoá, chi tiêu cho quá trình tiêu thụ. Cụ thể hơn, đó là các khoản chi tiêu làm tăng
(giảm) tài sản này nhưng lại làm giảm (tăng) một tài sản khác, do đó không làm
cho nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên hay giảm đi.
Còn chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật
hoá cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính cho một kỳ kinh doanh.
Ta thấy rằng chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan
hệ mật thiết với nhau, trong đó chi tiêu là cơ sở của chi phí. Không có chi tiêu thì
TRẦN THU QUYÊN 9 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
không có chi phí. Chi phí và chi tiêu khác nhau về lượng, về thời giá, chẳng hạn có
những khoản mục chi tiêu kỳ này nhưng được tính chi phí cho nhiều kỳ sau (xuất
dụng cụ, công cụ dụng cụ nhưng phân bổ vào chi phí nhiều kỳ TK1421 “chi phí trả
trước”), hay có những khoản được tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế lại chưa
chi tiêu (TK335 “chi phí phải trả”)
Như vậy, việc phân biệt chi phí và chi tiêu không chỉ có ý nghĩa trong việc
hiểu rõ bản chất của chi phí mà còn để xác định đúng nội dung, phạm vi và
phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp.
Độ lớn của chi phí sản xuất xây lắp là một đại lượng xác định và phụ thuộc
vào 2 nhân tố chủ yếu:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất trong một
thời kỳ nhất định.
- Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công (tiền lương) của một
đơn vị lao động đã hao phí.
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều khoản chi có nội dung, công dụng và mục
đích sử dụng không giống nhau. Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lý nói
chung và kế toán nói riêng, cần phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức thích
hợp .
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ
thuộc vào yêu cầu và mục đích của công tác quản lý. Việc hạch toán chi phí sản
xuất theo từng tiêu thức sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin, là cơ sở cho việc
phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng cường hạch toán kinh tế
trong các đơn vị xây lắp. Thông thường chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
xây lắp được phân loại theo các tiêu thức sau: Biểu 01
1.2.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh xây lắp theo quan hệ đầu vào
của quá trình sản xuất kinh doanh xây lắp.
Theo tiêu thức này thì chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
chia thành chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ,
Căn cứ vào tính chất kinh tế và hình thái nguyên thuỷ, chi phí ban đầy được
chia thành các yếu tố chi phí, không kể chi phí đó dùng để làm gì, phát sinh ở đâu,
đối tượng nào chịu chi phí. Các yếu tố chi phí ban đầu gồm:
TRẦN THU QUYÊN 10 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
+ Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm các chi phí nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu và thiết bị xây dựng
+ Chi phí nhân công: là toàn bộ tiền công và các khoản phải trả khác cho
người lao động trong doanh nghiệp xây lắp.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ chi phí khấu hao của tất cả tài
sản cố định trong doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
+ Chi phí khác bằng tiền: là các chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Chi phí ban đầu gồm các yếu tố chi phí có nội dung kinh tế khác biệt không
thể phân chia được nữa về nội dung kinh tế. Vì vậy, mỗi yếu tố chi phí là các yếu
tố đơn nhất.
- Chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh do quá trình phân công hợp tác giữa các bộ phận, các đơn vị trong nội
bộ doanh nghiệp.
Chi phí luân chuyển nội bộ phát sinh do có sự kết hợp các yếu tố đầu vào
của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, chi phí luân chuyển nội bộ là chi phí
tổng hợp được cấu thành bởi nhiều yếu tố chi phí đơn nhất ban đầu.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo tiêu thức quan hệ đầu vào của
quá trình sản xuất kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý vĩ mô và quản
trị doanh nghiệp.
+ Chi phí ban đầu theo yếu tố là cơ sở lập dự toán và kiểm tra việc thực hiện
các dự toán chi phí với kế hoạch cung cấp vật tư, lao động trong doanh nghiệp
+ Là cơ sở để xác định mức tiêu hao vật chất và tính thu nhập quốc dân của
doanh nghiệp, ngành và toàn bộ nền kinh tế quôc dân.
1.2.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí
với các khoản mục trên báo cáo tài chính.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi
phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
Cách phân loại này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xác định nguồn bù
đắp chi phí . Chi phí thời kỳ phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngay vào kỳ đó và
ảnh hưởng đến lợi tức của kỳ mà chúng phát sinh. Còn chi phí sản phẩm chỉ phải
tính để xác định kết quả ở kỳ mà sản phẩm đó được tiêu thụ, không phải ở kỳ mà
chúng phát sinh.
1.2.1.2.3. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh xây lắp theo mối quan hệ chi
phí với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
TRẦN THU QUYÊN 11 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi
phí cơ bản và chi phí chung.
Phân loại chi phí sản xuất theo phương thức này giúp các nhà quản lý doanh
nghiẹp xác định được phương hướng và các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm. Đối với chi phí cơ bản là các chi phí liên quan trực tiếp đến quá
trình công nghệ, thiếu chúng không thể sản xuất được sản phẩm, vì thế không thể
tiết kiệm bằng cách cắt bỏ mà phải phấn đấu hạ thấp định mức tiêu hao, cải tiến
công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tìm kiếm vật liệu thay thế. Còn đối với chi phí
chung phải tiết kiệm, hạn chế thậm chí loại trừ các chi phí không cần thiết.
1.2.1.2.4. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ giữa chi
phí với đối tượng chịu chi phí
Theo mối quan hệ giữa chi phí và đối tượng gánh chịu chi phí, chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián
tiếp.
- Chi phí trực tiếp: đối với doanh nghiệp xây lắp thì chi phí trực tiếp là
những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một công trình, hạng
mục công trình, một hoạt động sản xuất xây lắp hoặc một địa điểm nhất định và
hoàn toàn có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình,
hoạt động hay địa điểm đó.
- Chi phí gián tiếp: là chi phí phát sinh đến nhiều công trình, hạng mục công
trình, hoạt động hoặc địa điểm nhất định. Vì thế mà không thể hạch toán, quy nạp
trực tiếp được mà được tính cho các đối tượng liên quan bằng các phương pháp
phân bổ gián tiếp.
Ta cần phân biệt cặp chi phí cơ bản và chi phí chung với cặp chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí cơ bản thường là chi phí trực tiếp nhưng chi phí
cơ bản cũng có thể là chi phí gián tiếp trong trường hợp có liên quan đến nhiều
công trình, hạng mục công trình, hoạt động xây lắp, địa điểm sản xuất Hay chi
phí chung là chi phí gián tiếp nhưng cũng có thể là chi phí trực tiếp nếu chi phí đó
chỉ phát sinh liên quan đến một công trình, một hạng mục công trình
Cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh này có ý nghĩa thuần tuý với kỹ
thuật hạch toán. Đối với chi phí trực tiếp có thể căn cứ vào chứng từ gốc để tập
hợp cho từng đối tượng chịu chi phí. Đối với chi phí gián tiếp nếu có liên quan
nhiều đối tượng chịu chi phí thì bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ. Mức
độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính
hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ chi phí. Vì vậy, các nhà quản lý doanh
nghiệp phải hết sức quan tâm đến việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí.
1.2.1.2.5. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh xây lắp theo mối quan hệ
của chi phí với khối lượng hoạt động.
TRẦN THU QUYÊN 12 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Theo cách phân loại này chi phí được phân thành biến phí, định phí, chi phí
hỗn hợp.
Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động có ý
nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý của doanh nghiệp. Nó giúp các nhà quản
lý trong việc thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi
phí, sản lượng và lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và các quyết định quan trọng
khác trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hơn thế nữa, cách phân loại này giúp
các nhà quản lý xác định đúng đắn phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả
chi phí sản xuất kinh doanh. Đối với biến phí cần tiết kiệm tổng chi phí và chi phí
cho mỗi đơn vị khối lượng hoạt động.Còn đối với định phí cần phấn đấu để nâng
cao hiệu lực của chi phí trong sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra các nhà quản lý còn có thể sử dụng một số thuật ngữ như: chi phí
cơ hội, chi phí chìm, chi phí chênh lệch
1.2.2.Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.2.1. Khái niệm, bản chất của giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong doanh nghiệp xây lắp ta có thể hiểu bản chất của giá thành sản phẩm
là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm ( công trình,
hạng mục công trình) được hoàn thành. Nếu chưa có sự chuyển dịch này thì không
thể nói đến chi phí và giá thành sản phẩm. Để đánh giá chất lượng của việc tổ chức
kinh tế sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất phải được xem trong mối quan hệ với
kết quả mà nó tạo ra. Đó chính là sự chuyển dịch của các yếu tố chi phí tạo nên giá
thành sản phẩm xây lắp.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động
vật hoá và các chi phí cần thiết khác biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp xây lắp
phải bỏ ra để hoàn thành công trình, hạng mục công trình theo quy định.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa rất quan
trọng đối với công tác quản lý của các doanh nghiệp. Vì thế mà giá thành có
những chức năng đặc thù riêng có:chức năng bù đắp chi phí, chức năng lập giá và
chức năng đòn bẩy kinh tế.
1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Trong sản xuất xây lắp, để công tác kế toán tính giá thành sản phẩm phù hợp
với đặc thù riêng của ngành. Đồng thời tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, quản lý
giá thành sản phẩm chặt chẽ hơn tránh thất thoát lãng phí chi phí dẫn đến tính sai
TRẦN THU QUYÊN 13 K37/21/09
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
giá trị công trình, hạng mục công trình, cần phải phân loại giá thành sản phẩm xây
lắp.
* Phân loại theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành sản phẩm.
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây
lắp công trình.
Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, thời gian thi công dài mang tính chất đơn
chiếc, do đó công trình, hạng mục công trình đều có giá trị dự toán riêng.
Giá thành dự toán đều được xác định trên cơ sở các định mức và đơn giá
quy định của Nhà nước. Giá thành dự toán được lập trước khi tiến hành xây lắp,
đó chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp . Như vậy, giá thành dự toán là tổng
các chi phí dự toán, được xác định như sau:
Giá thành
dự toán
Giá trị dự toán xây lắp sau thuế
Thuế GTGT
Thu nhập chịu thuế tính trước
_
=
_
Giá trị dự toán xây lắp: là chi phí cho công tác xây dựng, lắp ráp các kết cấu
kiến trúc, lắp đặt máy móc thiết bị sản xuất.
Giá trị dự toán xây lắp sau thuế bao gồm: chi phí trực tiếp, chi phí chung và
thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT.
Thu nhập chịu thuế tính trước: là khoản thu nhập mà doanh nghiệp xây lắp
được hưởng tính vào chi phí xây lắp ngay trên bảng dự toán công trình từ khi đấu
thầu. Theo quy định, do giá trị của sản phẩm xây lắp được tính ngay từ khi tham
gia đấu thầu nên doanh nghiệp có thể xác định ngay khoản lợi nhuận định mức mà
doanh nghiệp có được khi thi công công trình.
- Giá thành kế hoạch:giá thành kế hoạch được xác định xuất phát từ những
điều kiện cụ thể ở một xí nghiệp xây lắp nhất định, trên cơ sở biện pháp thi công,
các định mức và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp
Giá thành kế hoạch
Giá thành dự toán
TRẦN THU QUYÊN 14 K37/21/09

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét