Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
là người có lợi, ai là người bị thiệt khi chấp nhận hay không chấp nhận hành vi
đó.
1.1.2.1. Bán phá giá xảy ra do phân biệt giá quốc tế
Phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trường bị phân biệt giá là thị trường
của các nước khác nhau. Song giá xuất khẩu thường cao hơn giá của thị trường
nội địa do nhà xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu như vận
chuyển, bảo hiểm…Do đó, khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giá
quốc tế, tức là giá bán trong nước khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi
là bán phá giá nếu giá xuất khẩu sản phẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở
trong thị trường nội địa.
Tuy nhiên, xét về mặt kinh tế, bán phá giá cũng là một hiện tượng thông
thường. Một công ty được hưởng lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa do
được bảo hộ bởi các rào cản thương mại tự nhiên và phi tự nhiên có thể bán
sản phẩm trong nước với mức giá khá cao. Nếu chi phí xuất khẩu hàng hóa
tương đối thấp, mức giá xuất khẩu do công ty đặt ra có thể sẽ thấp hơn nhiều
so với giá bán ở thị trường trong nước. Trong trường hợp này, công ty sẽ dễ bị
coi là bán phá giá.
Bản chất hành vi bán phá giá kể trên không phải là do công ty đặt giá
thấp ở thị trường xuất khẩu mà do công ty đã bán giá cao ở thị trường trong
nước. Chính sức mạnh độc quyền ở thị trường trong nước đã làm giảm lợi ích
của toàn xã hội. Nguyên tắc này vẫn đúng trong trường hợp công ty có sức
mạnh độc quyền ở cả hai thị trường. Khi đó, công ty sẽ đặt giá thấp hơn ở thị
trường có sức mạnh độc quyền yếu hơn.
Do đó, nếu bán phá giá xảy ra dưới hình thức phân biệt giá thì biện pháp
chống bán phá giá sẽ không mang lại lợi ích kinh tế gì vì ta cần chống lại sự
định giá cao tại thị trường nội địa chứ không phải loại bỏ mức giá thấp ở thị
trường xuất khẩu.
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Tuy nhiên, trong trường hợp này có một số quan điểm ủng hộ việc áp
dụng các biện pháp chống bán phá giá.
Quan điểm thứ nhất cho rằng việc bán phá giá sẽ làm giảm giá hàng hóa
tương tự tại thị trường nước nhập khẩu. Điều này làm giảm lợi nhuận và lương
của các chủ công ty và người lao động sản xuất mặt hàng cạnh tranh với hàng
nhập khẩu và đe dọa lợi ích tiềm năng trong tương lai của họ hoặc làm ảnh
hưởng đến mức sống của những đối tượng này.
Tuy nhiên, giá bán của hàng nhập khẩu thấp hơn giá bán của sản phẩm
nội địa rõ ràng đã đem lại lợi ích cho toàn xã hội nhiều hơn so với những thiệt
hại mà các nhà sản xuất sản phẩm cạnh tranh phải gánh chịu.
Trước khi có hàng nhập khẩu bán vào thị trường trong nước với giá thấp
hơn giá hiện hành, cung và cầu của mặt hàng đó ở thị trường trong nước cân
bằng ở điểm E, với giá p
1
và lượng tiêu thụ q
1
. Tuy nhiên, khi có nguồn hàng
nước ngoài bán với giá thấp hơn là p
2
, lượng tiêu thụ tăng lên q
2
, trong đó
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn q

2
, lượng hàng nhập khẩu
là q
2 -
q

2.

Từ hình 1 có thể thấy rằng thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một
lượng bằng diện tích hình thang ABFE, trong khi đó thặng dư của nhà sản xuất
trong nước giảm một lượng bằng diện tích hình thang ABCE. Về tổng thể,
toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CFE.
Trong trường hợp này, nếu muốn, chính phủ một nước có thể đánh thuế
để phân phối lại thu nhập nhằm bù đắp thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước, hay thậm chí sử dụng biện pháp tự vệ. Áp dụng thuế chống bán phá giá
trong trường hợp này không phải là giải pháp tối ưu.
Quan điểm thứ hai cho rằng áp dụng thuế chống bán phá giá là biện
pháp nhằm gây sức ép làm tăng tính cạnh tranh tại thị trường nước xuất khẩu
bằng cách xoá bỏ các rào cản thương mại - công cụ tạo thế độc quyền cho nhà
xuất khẩu. Hàng rào thương mại ở đây được hiểu là thuế nhập khẩu, hạn ngạch
nhập khẩu, v.v chứ không phải những rào cản tự nhiên như chi phí vận tải.
Nếu xét nền kinh tế thế giới như một tổng thể thì việc dỡ bỏ các rào cản
thương mại trên cũng mang một ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, đây liệu có phải
là điều mà những nước nhập khẩu mong đợi không bởi vì biện pháp chống bán
phá giá trong trường hợp này chỉ góp phần tăng cạnh tranh tại thị trường nước
xuất khẩu.
Quan điểm thứ ba cho rằng việc bán phá giá có thể gây lãng phí nguồn
lực tại nước nhập khẩu do nước này cố gắng điều chỉnh để đạt được mức giá
thấp hơn. Tuy nhiên, lập luận này chỉ đúng khi hàng nhập khẩu bị bán phá giá
trong thời gian ngắn. Nếu việc bán phá giá mang tính lâu dài thì những điều
chỉnh về nguồn lực tại nước nhập khẩu là hoàn toàn hợp lý và không hề lãng
phí.
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Ngay cả khi việc bán phá giá có tính chất tạm thời, việc áp dụng thuế
chống bán phá giá cũng không phải là giải pháp tối ưu trong một số trường
hợp. Giả sử như một công ty đang đặt giá tương đối ổn định ở thị trường trong
nước do thị trường này không chịu tác động nhiều của giá thế giới. Nhưng trên
thị trường thế giới, công ty lại điều chỉnh giá sản phẩm theo giá thị trường. Do
đó, khi giá thị trường thế giới xuống thấp, nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng bị coi là
bán phá giá. Nếu ta áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhằm tránh các chi
phí điều chỉnh việc gia nhập và rút khỏi ngành của các nhà sản xuất sản phẩm
tương tự tại nước nhập khẩu thì chính sách này chỉ có thể gạt nhà xuất khẩu ra
khỏi thị trường nước nhập khẩu chứ không hề làm tăng giá thế giới. Hơn nữa,
để thực hiện mục tiêu làm giảm các chi phí điều chỉnh không cần thiết do
thương mại gây ra, nước nhập khẩu hoàn toàn có thể sử dụng một số biện pháp
đối phó tạm thời khác ví dụ như biện pháp tự vệ.
Tóm lại việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá như một công cụ để
tránh các thiệt hại tạm thời do hàng nhập khẩu gây ra không phải là biện pháp
tối ưu ngay cả khi hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá.
1.1.2.2. Bán phá giá xảy ra do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Những người ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thường
lập luận rằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là
một hình thức phân biệt giá. Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc
bán hàng dưới chi phí nếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần
hàng bán trên chi phí trong thị trường khác, tức là công ty đó đang thực hiện
biện pháp phân biệt giá.
Tuy nhiên, lập luận trên chưa giải thích được tại sao giá xuất khẩu dưới
chi phí sản xuất lại bị coi là bán phá giá. Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa kinh tế
của hành vi này, ta sẽ xem xét khái niệm “chi phí” bằng cách phân biệt “chi
phí trung bình” và “chi phí biên”. Chi phí trung bình là chi phí tính trên một
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
đơn vị sản phẩm đầu ra. Chi phí biên là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một
đơn vị sản phẩm đầu ra.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một
phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi. Chính chi
phí biên là yếu tố quyết định trong việc định giá của một công ty trong ngắn
hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập thị trường. Điều này giải
thích tại sao một công ty vẫn chấp nhận bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí
trung bình dù biết rằng đang bị lỗ. Thật vậy, có trường hợp nếu công ty không
tiếp tục sản xuất thì công ty có thể sẽ bị lỗ nhiều hơn do vẫn chịu chi phí cố
định.
Trước hết chúng ta hãy xem xét kỹ hơn tình huống giá xuất khẩu thấp
hơn chi phí trung bình. Sau đó chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu trường hợp giá
xuất khẩu thấp hơn chi phí biên.
1.2.2.3. Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí trung bình
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
MC: Đường chi phí biên AVC: Đường chi phí biến đổi trung
bình
MR: Đường thu nhập biên ATC: Đường chi phí trung bình
Trong thời kỳ ngắn hạn, công ty tối đa hoá lợi nhuận của mình bằng
cách lựa chọn đầu ra q
*
mà tại đó chi phí biên của công ty bằng với giá cả P
của sản phẩm và bằng thu nhập biên MR. Lợi nhuận của công ty chính là hình
chữ nhật ABCD. Mức sản lượng q
1
thấp hơn q
*
hay mức sản lượng q
2
cao hơn
q
*
đều dẫn tới việc hạ thấp lợi nhuận. Vùng xám cho thấy mức giảm lợi nhuận
tương ứng với việc lựa chọn sản lượng q
1
và q
2
.
Các đường MR và MC cũng cắt nhau tại E, tương ứng với mức sản
lượng q
0.
Tuy nhiên ở mức sản lượng q
0
lợi nhuận chưa được tối đa hoá. Tăng
sản lượng vượt quá q
0
sẽ tăng được lợi nhuận vì chi phí biên vẫn thấp hơn thu
nhập biên. Do đó điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của một công ty là thu nhập
biên bằng chi phí biên ở điểm mà ở đó chi phí biên đang đi lên chứ không đi
xuống.
Trong ngắn hạn, khi thị trường suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh
tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp
hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn giao điểm của chi phí biên
và chi phí biến đổi trung bình. Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù
đắp chi phí cố định. Nhà sản xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy
giảm tạm thời, thị trường sẽ hồi phục và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn
giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểu thua lỗ trước khi
rút khỏi thị trường.
Khi cả nhà sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu đều bán phá giá dưới
chi phí trung bình do suy thoái của thị trường thì việc đánh thuế chống bán phá
giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý. Trong trường hợp này, biện pháp
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
chống bán phá giá chỉ mang tính bảo hộ đơn thuần nhằm làm giảm tác động
bất lợi đối với công ty trong nước khi thị trường suy thoái.
Sự khác biệt về cơ cấu chi phí của các công ty trên thế giới có thể do
nhiều nguyên nhân. Ví dụ như việc các công ty của Mỹ thường đầu tư lớn vào
máy móc, thiết bị khiến cho tỷ lệ chi phí cố định của các công ty này trong
tổng chi phí thường cao hơn các nhà cạnh tranh khác ở nước ngoài. Do đó, các
công ty này sẽ dễ bị coi là bán phá giá trong thời gian cầu của thế giới giảm.
Hay như ở Nhật Bản, do tiền lương công nhân thường được coi là chi phí cố
định vì các công ty Nhật hiếm khi sa thải công nhân nên các công ty này có
thể sẽ tiếp tục sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ ở mức giá mà công ty Mỹ cho là
quá thấp để duy trì hoạt động.
Nếu việc bán phá giá là do sự khác biệt về cơ cấu chi phí gây ra thì
nước nhập khẩu có thể điều chỉnh bằng các chính sách như đánh thuế sa thải
công nhân hay trợ cấp duy trì việc làm để làm thay đổi về cơ cấu chi phí của
công ty trong nước. Các chính sách này sẽ điều tiết hành vi của nhà sản xuất
trong nước và góp phần làm giảm gánh nặng thuế khoá cho người tiêu dùng do
không phải chịu thuế chống bán phá giá.
Tóm lại, đối với hành vi bán phá giá dưới chi phí trung bình, việc áp
dụng thuế chống bán phá giá có thể không phải là phương án tối ưu nhất.
1.1.2.4. Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí biên
Như trên đã phân tích, một công ty có thể bán hàng với giá thấp hơn chi
phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn chi phí biên. Tuy nhiên trên thực
tế vẫn có những công ty bán hàng dưới chi phí biên. Nguyên nhân của hành vi
này có thể do các công ty đánh giá sai chi phí biên, hoặc chấp nhận hy sinh lợi
nhuận để đạt được một số mục tiêu khác như tối đa hoá doanh thu, độc chiếm
thị trường, tăng thị phần hay tiếp thị hàng hóa.
Một là, tính cứng nhắc và bất ổn trong ngắn hạn
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Khi bắt đầu xuất khẩu vào một thị trường, công ty thường phải đưa ra
quyết định sản xuất trước khi xác định được chính xác mức giá trên thị trường
bằng cách quyết định sản lượng sản xuất theo mức giá dự tính. Mức giá dự
tính của công ty là số bình quân gia quyền của tất cả các phương án giá cả có
thể có với xác suất của mỗi phương án được sử dụng như các trọng số. Nếu
giá bán thực tế thấp hơn nhiều so với giá bán mong đợi ban đầu thì công ty sẽ
phải bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên định trước.
Khi công ty phát hiện ra đã xác định sai giá thị trường và do đó, xác
định sai chi phí biên, công ty khó có thể điều chỉnh sản lượng ngay lập tức.
Mức sản lượng chỉ có thể điều chỉnh sau một thời gian dài, khi công ty có thể
cải biến toàn bộ yếu tố đầu vào của nó, kể cả quy mô các nhà máy.
Do tính cứng nhắc trong ngắn hạn, một khi công ty đã ấn định sản lượng
sản xuất, có nghĩa là không thay đổi được toàn bộ các chi phí cố định thì việc
điều chỉnh chi phí biên ước tính ban đầu là hầu như không thể xảy ra. Ví dụ
như với một hãng hàng không đang duy trì một chuyến bay thường lệ nhưng
còn một số vé chưa bán được. Khi đó, chi phí biên tăng lên cho mỗi hành
khách tiếp theo có thể rất thấp, chẳng hạn bằng chi phí một suất ăn trên máy
bay. Chi phí biên trong trường hợp này gần như bằng không. Hay như một
công ty sản xuất đồ gốm sứ xuất khẩu. Công ty đã đầu tư máy móc, lò nung
cho việc sản xuất 5 vạn chiếc đĩa. Nếu trên thực tế, công ty mới chỉ có đơn đặt
hàng yêu cầu giao ngay 4,5 vạn chiếc đĩa thì chi phí biên tăng thêm cho mỗi
chiếc đĩa sản xuất tiếp theo là không đáng kể (chỉ tương ứng với một lượng
nhỏ chi phí đất sét và lao động) vì với công suất lò nung đã định trước, công ty
vẫn phải mất một lượng chi phí cố định đã đầu tư vào lò nung, chi phí cho
nguyên liệu để đốt lò… Do đó, trong ngắn hạn, hãng hàng không hay công ty
sản xuất đồ gốm sứ này có thể bán vé hoặc xuất khẩu số đĩa chưa bán được ở
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
bất cứ mức giá nào cũng được coi là có lợi vì mức giá nào trong trường hợp
này cũng lớn hơn chi phí biên.
Tóm lại, áp dụng thuế chống bán phá giá trong trường hợp công ty xác
định sai mức giá trên thị trường và chi phí biên là không hợp lý vì việc xác
định sai mức giá này chỉ phản ánh hiện tượng kinh tế đơn thuần là chi phí biên
trong ngắn hạn có thể cao hơn rất nhiều so với chi phí trung bình trong dài
hạn.
Hai là, tối đa hoá doanh thu
Ở những công ty lớn, chủ công ty thường thuê ban giám đốc điều hành.
Trong một thời gian nào đó, ban giám đốc có thể quan tâm đến mục tiêu tối đa
hoá doanh thu để nhằm khuyếch trương hay được khen thưởng mà xa rời mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận của công ty.
Nếu tình huống này xảy ra trong thị trường nội địa, chính phủ sẽ không
can thiệp vì đây là vấn đề của bản thân công ty. Tuy rằng hành vi này có thể
gây thiệt hại cho những người sản xuất sản phẩm cạnh tranh trên thị trường,
nhưng xét về tổng thể toàn xã hội sẽ được lợi do người tiêu dùng sẽ được lợi
nhiều hơn từ việc tối đa hoá doanh thu này.
Trên thị trường quốc tế, hành vi này bị coi là bán phá giá và phải chịu
thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, về phương diện kinh tế, tối đa hoá lợi
nhuận là mục tiêu sống còn của công ty nên công ty sẽ rất khó duy trì được
hành vi này trong dài hạn. Ban giám đốc cũ có thể bị thay thế. Vì vậy, với
nước nhập khẩu, biện pháp ứng phó tốt nhất trong trường hợp này là tận dụng
số hàng nhập khẩu rẻ này.
Ba là, thôn tính để độc chiếm thị trường
Một số công ty bán phá giá để cố gắng tối đa hoá doanh số nhằm thôn
tính, độc chiếm thị trường. Sau một thời gian dài chịu lỗ, công ty sẽ loại được
các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trường. Sau khi đạt được điều này,
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
công ty sẽ tăng giá lên cao nhằm thu lợi nhuận độc quyền. Có thể thấy rằng,
trong trường hợp này công ty đã hy sinh lợi nhuận ngắn hạn để tối đa hóa lợi
nhuận dài hạn.
Hành vi độc quyền của công ty rõ ràng sẽ gây thiệt hại lớn cho nước
nhập khẩu. Do đó, các nước nhập khẩu thường tỏ ra khá kiên quyết trong việc
đối phó với hành vi bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trường này.
Tuy nhiên, áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu bị
bán phá giá kiểu này không phải là giải pháp tối ưu. Điều này xuất phát từ
nguyên nhân: (i) việc bán phá giá để chiếm lĩnh thị trường là rất khó khăn vì
ngoài việc đẩy các công ty cạnh tranh khác ra khỏi thị trường, công ty còn
phải tìm cách ngăn cản sự quay trở lại của các đối thủ cạnh tranh khi giá bị
đẩy lên cao. (ii) trên phạm vi quốc tế, hiếm khi xảy ra hiện tượng một công ty
có thể độc quyền trên toàn bộ thị trường. Việc kiểm soát giá trên thị trường sẽ
do một số công ty lớn nắm giữ. Do đó, ngay cả khi nhà xuất khẩu thành công
trong việc loại bỏ tất cả các công ty nội địa thì họ vẫn phải dàn xếp với các
công ty quốc tế khác để thống nhất về việc định giá. (iii)nước nhập khẩu có
thể triệt tiêu sức mạnh độc quyền của công ty bằng cách đánh thuế đối với lợi
nhuận độc quyền sau khi công ty đã tăng giá chứ không cần phải đánh thuế
chống bán phá giá ngay trong giai đoạn đầu. Nếu không làm như vậy, nước
nhập khẩu sẽ phải chịu mất đi một lượng hàng nhập khẩu rẻ chỉ vì sợ bị thôn
tính thị trường.
Bốn là, cạnh tranh để giành thị phần
Một số công ty xuất khẩu hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên nhằm
mục tiêu chiếm được thị phần cao hơn trên thị trường nhập khẩu. Tuy nhiên,
khác với trường hợp trên, công ty không có ý định thôn tính toàn bộ thị trường
mà chỉ cố gắng tăng thị phần của mình.
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét