Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Đầu tư Xây dựng Số 2 Hà Nội

Chi phí QLDN 3 199 373 938 3 529 394 582
LN thuần từ HĐKD - 3 133 918 152 - 2 417 847 754
Lãi khác 1 180 672 888 1 276 795 112
Tổng LN trước thuế - 1 953 245 264 - 1 141 052 642
Thuế TNDN 0 0
LN sau thuế - 1 953 245 264 - 1 141 052 642
Các số liệu trên được trích từ Bảng Cân Đối Kế Toán và Báo Cáo Kết Quả
Kinh Doanh của Công ty trong 2 năm 2004, 2005. Qua các số liệu trên cho
thấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2005 đã có sự cải thiện
tương đối song năm 2005 Công ty vẫn bị lỗ. Doanh thu thuần của Công ty
năm 2004 đạt 117.167.410.056 đến năm 2005 đạt 134.292.537.709, tăng gấp
1,15 lần, chứng tỏ tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty đang tăng trở lại.
Nguồn vốn Chủ sở hữu năm 2005 là 9.126.719.980 cao hơn so với năm 2004:
8.842.924.409 mặc dù lợi nhuận của Công ty năm 2005 vẫn bị lỗ, cho thấy
Công ty đang đã có thêm vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh từ ban giám
đốc Công ty. Chi phí bán hàng và chi phí QLDN của Công ty trong năm 2005
cũng cao hơn so với năm 2004, chứng tỏ Công ty đang nỗ lực tập trung vào
việc nâng cao chất lượng công trình xây dựng.
Ngoài ra từ các số liệu trên, có thể tính được một số chỉ tiêu tài chính khác
như :
*Chỉ tiêu 1:
Tỷ suất tự tài
trợ
=
Tổng nguồn vốn CSH
Tổng tài sản
x 100%
5
Tỷ suất tự tài
trợ năm 2004
=
8.842.924.409
260.962.347.102
x 100% = 3,39%
Tỷ suất này cho thấy trong 100đ tài sản thì có 3.39đ được đầu tư từ nguồn vốn
chủ sở hữu, qua đó ta thấy sự chủ động của Công ty trong hoat động tài chính
là thấp.
Tỷ suất tự tài
trợ năm 2004
=
9.126.719.980
301.444.352.657
x 100% = 3,03%
So với năm 2004, năm 2005 Tỷ suất tự tài trợ của Công ty là thấp hơn do
Công ty đã tăng cường vốn vay bên ngoài và vốn do Tổng Công ty cấp để đầu
tư vào tài sản.
* Chỉ tiêu 2:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ trong
năm
=
Doanh thu thuần
TSCĐ sử dụng bình quân trong năm
= 29,77Hiệu suất sử dụng
TSCĐ trong năm 2004
=
117.167.410.056
3.935.142.948
6
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng TSCĐ trong năm 2004 đã tạo ra được 29,77
đồng doanh thu
= 28,60
Chứng tỏ trong năm 2005 hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty không cao
bằng năm 2004 mặc dù doanh thu thuần năm 2005 cao hơn năm 2004 nhưng
TSCĐ năm 2005 cũng được Công ty đầu tư nhiều hơn.
* Chỉ tiêu 3:
Hiệu suất sử dụng TSLĐ trong
năm
=
Doanh thu thuần
TSLĐ sử dụng bình quân trong năm
= 2,66
Chỉ tiêu này
cho biết
mỗi một đồng TSLĐ sử dụng trong kỳ đem lại 2,66 đồng doanh thu.
= 3,75
Hiệu suất sử dụng
TSCĐ trong năm 2005
=
134 292 537 709
4.695.207.069
Hiệu suất sử dụng TSLĐ
trong năm 2004
=
117 167 410 056
44.095.212.444
Hiệu suất sử dụng TSCĐ
trong năm 2005
=
134.292.537.709
35.786.798.486
7
Chứng tỏ năm 2005 hiệu quả sử dụng TSLĐ của Công ty tăng cao hơn so với
năm 2004, điều này góp phần làm cho doanh thu và thu nhập cảu Công ty
tăng lên.
* chỉ tiêu 4:
x 100%
x 100% = 72,63%
Tỷ suất này cho biết
khả năng thanh toán các khoản nợ của Công ty trong năm tài chính.
x 100% = 74.89%
Điều này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ của Công ty năm 2005
tốt hơn so với năm 2004, đây là một xu hướng tốt cho Công ty trong quá trình
kinh doanh.
* Chỉ tiêu 5:
Tỷ suất thanh toán
hiện hành
=
Tổng TSLĐ
Tổng nợ phải trả
Tỷ suất thanh toán
hiện hành năm 2004
=
183.116.301.591
252.119.422.693
Tỷ suất thanh toán
hiện hành năm 2005
=
218.903.100.077
292.317.632.677
8
x 100%
x 100% = 96.61%
Tỷ suất này cho biết nghĩa
vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn, tỷ suất này năm
2004 là rất cao 96,61%, đây là một trong những vấn đề hết sức quan trọng vì
như thế Công ty sẽ mắt khả năng thanh toán các khoản nợ
x 100% = 96.97%
Chứng tỏ năm 2005 tỷ
suất này cao hơn năm 2004, mặc dù tổng nguồn vốn tăng nhưng tổng nợ phải
trả cũng tăng, điều này không có lợi cho Công ty trong hoạt động kinh doanh.
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Công ty Đầu tư Xây dựng số 2 Hà Nội là một Công ty có nhiều đơn vị phụ
thuộc, do đó bộ máy quản lý của Công ty cũng có nhiều bộ phận, phòng ban
khác nhau.
Công ty được điều hành bởi một giám đốc và hai phó giám đốc Công ty.
Công ty chịu sự quản lý của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội
theo quy định tại điều lệ Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội, Luật
DNNN và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Tỷ suất nợ =
Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất nợ
năm 2004
=
252.119.422.693
260.962.347.102
Tỷ suất nợ
năm 2005
=
292 317 632 677
301.444.352.657
9
Mô hình tổ chức Bộ máy quản lý của Công ty được trình bày ở trang bên bao
gồm :
a. Ban giám đốc Công ty : Gồm có
* Giám đốc Công ty
Giám đốc Công ty do Uỷ ban nhân dân thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm,
khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng Giám đốc và Hội đồng quản trị
Tổng Công ty, UBND Thành phố và pháp luật về việc điều hành hoạt động
của Công ty, Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong Công ty.
Giám đốc công ty có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Nhận vốn, đất đai và các nguồn lực khác do Nhà nước, Tổng công ty và từ
các nguồn khác giao để quản lý sử dụng theo mục tiêu, nhiệm vụ Tổng Công
ty giao và chương trình kế hoạch của công ty đạt hiệu quả cao và phát triển
vốn.
- Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch 5 năm và hàng năm của Công ty,
phương án đầu tư liên doanh và liên kết của Công ty trình Tổng Công ty
quyết định.
- Tổ chức điều hành các hoạt động kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm
về kết quả kinh doanh của Công ty trước Hội đồng quản trị Tổng Công ty và
pháp luật, thực hiện các nhiệm vụ do Tổng Công ty giao.
- Ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá, tiền
lương phù hợp với các tiêu chuẩn, định mức đơn giá của Nhà nước và của
Tổng Công ty.
- Đề nghị Tổng Giám đốc, Hội đồng quản trị Tổng Công ty trình UBND
Thành phố quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật Phó Giám
đốc, Kế toán trưởng Công ty và chịu trách nhiệm về năng lực cán bộ mà mình
bổ nhiệm.
10
Quyết định về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các Trưởng
phó phòng chuyên môn nghiệp vụ, các Trưởng phó đơn vị trực thuộc Công ty.
- Báo cáo với Tổng Công ty về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty.
- Chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của
Tổng Công ty đối với việc thực hiện nhiệm vụ điều hành của mình.
* Phó Giám đốc công ty
Phó Giám đốc Công ty là người giúp Giám đốc điều hành một số lĩnh
vực hoạt động của Công ty, thay mặt giám đốc Công ty giải quyết một số
công việc cụ thể theo phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước
Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Giám đốc phân công thực hiện.
Phó Giám đốc Công ty phải thường xuyên báo cáo kết quả công tác của
mình với Giám đốc Công ty và báo cáo trước hội nghị giao ban tập thể lãnh
đạo các đơn vị thường kỳ.
Trong quá trình giải quyết công việc có các mối quan hệ với cá nhân
hoặc tổ chưc ngoài Công ty thì trước khi giải quyết cần có ý kiến thống nhất
về nguyên tắc với Giám đốc Công ty. Đồng thời trong quá trình giải quyết
phải thường xuyên báo cáo với Giám đốc kết quả thực hiện.
Khi có yêu cầu nghỉ công tác hoặc đi công tác, học tập… quá 1 ngày
phải báo cáo trước với Giám đốc Công ty.
b. Các phòng ban nghiệp vụ và các đơn vị trực thuộc
* Các phòng ban nghiệp vụ
Mỗi phòng ban nghiệp vụ trực thuộc Công ty Đầu tư Xây dựng Số 2 Hà
Nội bao gồm một Trưởng phòng và các Phó phòng ( không quá hai người )
11
Các phòng ban nghiệp vụ có chức năng tham mưu giúp việc giám đốc trong
quản lý, điều hành công việc trong khuôn khổ của phòng ban mình. Chịu
trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về công việc đã được phân công.
* Các đơn vị trực thuộc
Tổ chức bộ máy của các Xí nghiệp trực thuộc bao gồm một giám đốc xí
nghiệp và các phó giám đốc xí nghiệp (không quá 2 người), cùng một tổ
nghiệp vụ văn phòng bao gồm một số cán bộ nghiệp vụ chuyên môn giúp việc
cho giám đốc Xí nghiệp trong quản lý điều hành sản xuất kinh doanh và một
số bộ phận trực tiếp sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Nhiệm vụ cụ thể của
từng cá nhân hay bộ phận trực tiếp sản xuất kinh doanh của xí nghiệp do
Giám đốc xí nghiệp phân công và kiểm tra thực hiện. Cụ thể là:
+ Giám đốc xí nghiệp do giám đốc công ty bổ nhiệm sau khi tham khảo ý
kiến tập thể lãnh đạo công ty chịu trách nhiệm trước Giám đốc công ty và
Nhà nước về mọi hoạt động và kết quả sản xuât kinh doanh của xí nghiệp.
+ Giúp việc cho Giám đốc xí nghiệp là các phó giám đốc xí nghiệp do giám
đốc công ty bổ nhiệm có chú ý xem xét đến đề xuất chọn lựa của giám đốc xí
nghiệp, phó giám đốc xí nghiẹp được giám đốc xí nghiệp trực tiếp phân công
cụ thể và giám đốc xí nghiệp có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện chức trách
được phân công của các phó giám đốc xí nghiệp.
+ Tổ nghiệp vụ văn phòng bao gồm:
Một kế toán chính do giám đốc công ty bổ nhiệm có chú ý xem xét đến đề
xuất chọn lựa của giám đốc xí nghiệp, kế toán chính có nhiệm vụ giúp giám
đốc xí nghiệp thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê và điều lệ tổ chức kế toán
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Kế toán chính đảm nhiệm
làm tổ trưởng tổ nghiệp vụ văn phòng (hoặc cử một phó giám đốc xí nghiệp
làm tổ trưởng).
Một nhân viên thống kê - kế hoạch kiêm thủ quỹ xí nghiệp.
12
Ngoài ra tuỳ theo hoạt động cụ thể của từng xí nghiệp mà bố trí một vài cán
bộ chuyên môn đảm nhiệm các chức năng quản lý sản xuất kinh doanh trực
tiếp của xí nghiệp.
Tổ nghiệp vụ văn phòng có nhiệm vụ tham mưu giúp viêc cho giám đốc xí
nghiệp trong việc lập phương án, kế hoạch chi tiết cũng như việc thực hiện
điều hành sản xuất kinh doanh chung của xí nghiệp. Thực hiện đầy đủ các quy
chế, quy định của xí nghiệp, của công ty cũng như mọi chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước và được sự hướng dẫn cũng như chịu sự kiểm tra,
giám sát về nghiệp vụ chuyên môn của các phòng ban chức năng công ty.
* Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban nghiệp vụ và các đơn vị trực thuộc
Mỗi phòng, ban, đơn vị trực thuộc là một bộ phận trong bộ máy quản lý sản
xuất kinh doanh của công ty thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho
Giám đốc Công ty trong quản lý điều hành sản xuất kinh doanh chung.
Căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh cụ thể và yêu cầu quản lý của
từng giai đoạn. Giám đốc Công ty giao nhiệm vụ cụ thể cho các phòng ban và
đơn vị trực thuộc.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao, trưởng phòng ban và các đơn vị
trực thuộc có nhiệm vụ xây dựng cụ thể kế hoạch công tác tháng, quý, năm và
triển khai kế hoạch phân công nhiệm vụ đến từng cá nhân trong đơn vị mình
thực hiện.
Trong các hội nghị giao ban lãnh đạo công ty, trưởng phòng ban và thủ
trưởng các đơn vị trực thuộc phải báo cáo kết quả công việc thực hiện được
của đơn vị mình trong thời gian qua và kế hoạch công tác trong thời gian tới.
Trưởng (hoặc Phó được phân công) phòng nghiệp vụ Công ty được uỷ
quyền của Giám đốc công ty ký một số văn bản thông báo, hướng dẫn nghiệp
vụ, mời họp trong nội bộ công ty sau khi có ý kiến thống nhất về nội dung của
Giám đốc công ty.
13
Riêng Trưởng phòng Kỹ thuật còn được thừa uỷ quyền của Giám đốc công
ty ký các biên bản nghiệm thu kỹ thuật từng phần, hố sơ hoàn công của các
công trình do công ty thi công .
Trưởng phòng ban và thủ trưởng các đơn vị trực thuộc phải kiểm tra, ký tắt
và chịu trách nhiệm trước Giám đốc công ty về các dự thảo văn bản và các tài
liệu kinh tế kỹ thuật khác đã đánh máy, in ấn thuộc lĩnh vực công tác của đơn
vị mình trước khi trình Giám đốc công ty, đồng thời chịu trách nhiệm lưu trữ
vào hồ sơ có liên quan.
Tuỳ theo chức năng, có nhiệm vụ thường xuyên liên hệ chặt chẽ với các
phòng ban của Tổng công ty và các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp có liên
quan để kịp thời giải quyết, nhiệm vụ được giao đồng thời phải thường xuyên
báo cáo với Giám đốc Công ty về nội dung, kết quả công việc cùng những tồn
tại, vướng mắc trong giao dịch công tác.,
Những phòng ban và đơn vị có cấp Phó thì Trưởng phòng,ban và thủ
trưởng các đơn vị phải có bản phân công rõ nhiệm vụ trình Giám đốc công ty
đồng thời thường xuyên trao đổi ý kiến, bàn bạc thống nhất trong giải quyết
công việc.
Trưởng phòng ban và thủ trưởng đơn vị vẫn là người chịu trách nhiệm
trước Giám đốc công ty về toàn bộ hoạt động của đơn vị mình. Khi trưởng
phòng ban hoặc thủ trưởng đơn vị nghỉ hoặc đi công tác, học tập quá một
ngày thì phải phân công người khác thay thế và báo cáo để giám đốc công ty
biết.
Hàng ngày các phòng ban và đơn vị trực thuộc phải phân công người
thường trực để giải quyết kịp thời các công việc có yêu cầu đột xuất.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét