Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần đầu tư xây dựng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường

Chuyên đề tốt nghiệp
Do tính chất đơn chiếc, riêng lẻ, nên chi phí bỏ ra để thi công xây lắp các
công trình có nội dung và cơ cấu không đồng nhất nh các sản phẩm công nghiệp.
Chi phí XDCB bao gồm xây dựng, mua sắm, lắp đặt thiết bị và chi phí kiến
thiết cơ bản khác, trong đó phần xây dựng, lắp đặt do các doanh nghiệp
chuyên về thi công xây lắp đảm nhận thông qua hợp đồng giao nhận thầu xây
lắp.
Từ đặc điểm này, kế toán phải tính đến việc hạch toán chi phí, tính giá
thành và tính kết quả thi công cho từng loại sản phẩm xây lắp riêng biệt (từng
công trình, hạng mục công trình, từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng đợc
xây dựng cùng một thiết kế mẫu và trên cùng một địa điểm nhất định). Do
vậy, việc xác định đúng đắn đối tợng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ
đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí, đánh giá đúng đắn tình
hình quản lý và thi công trong từng thời kỳ nhất định, tránh tình trạng căng
thẳng vốn cho doanh nghiệp xây lắp.
Sản xuất xây dựng thờng diễn ra ngoài trời chịu tác động trực tiếp của
các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và do vậy việc thi công xây lắp mang
tính thời vụ. Do sản xuất thi công mang tính thời vụ, đòi hỏi phải tổ chức sản
xuất thi công một cách khoa học, điều chuyển lao động, vốn, máy móc thi
công một cách hợp lý. Hơn nữa, việc thi công trong thời gian dài và diễn ra
ngoài trời nên có thể gặp nhiều rủi ro tạo nên những khoản thiệt hại bất ngờ
nh thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất. Những khoản thiệt hại này
cần đợc tổ chức theo dõi chặt chẽ và phải có phơng pháp hạch toán phù hợp
với những nguyên nhân gây ra.
Hoạt động sản xuất trong ngành xây dựng cơ bản có tính chất lu động
rất cao. Sản phẩm xây dựng cơ bản cố định tại một địa điểm, khi hoàn thành
không nhập kho nh các ngành sản xuất vật chất khác. Trong quá trình thi công
các doanh nghiệp xây lắp phải thờng xuyên di chuyển địa điểm. Do đó, sẽ
phát sinh một số chi phí cần thiết khách quan nh chi phí điều động nhân công,
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
5
Chuyên đề tốt nghiệp
điều động máy thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm phục vụ công
nhân và thi côngTất cả các chi phí này kế toán phải phản ánh chính xác các
chi phí này và tổ chức phân bổ hợp lý.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1.2.1 Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động
sống, lao động vật hoá và các hao phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ
ra để tiến hành hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ, một giai đoạn
nhất định. Về mặt lợng, chi phí sản xuất phụ thuộc hai nhân tố:
Khối lợng lao động và t liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình sản xuất,
ở một thời kỳ nhất định. Giá cả t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản
xuất và tiền lơng của một đơn vị lao động đã bỏ ra.
Trong doanh nghiệp xây dựng có rất nhiều loại chi phí với những nội
dung kinh tế khác nhau do đó đòi hỏi phải có sự phân loại các chi phí. Đây là
một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác các khoản mục chi phí, thực hiện
tốt mục tiêu hạ giá thành sản phẩm.
1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế của
chi phí.
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí của doanh nghiệp xây lắp đợc
chia thành các yếu tố sau:
Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu
phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản, sử dụng vào sản
xuất kinh doanh. (loại trừ vật liệu dùng không hết nhập lại kho, và phế liệu thu
hồi)
Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ tiền lơng, tiền công phải trả cho công
nhân viên trong doanh nghiệp và các khoản trích trên tiền lơng theo quy định.
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố
định phải trích trong kỳ của tất cả tscđ hữu hình, TSCĐ thuê tài chính của
doanh nghiệp.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài,
thuê ngoài phục vụ cho sản xuất kinh doanh nh tiền điện, tiền nớc
Chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Ngoài năm yếu tố kể trên, việc phân loại các chi phí
sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế cho biết kết cấu tỷ trọng của từng loại chi
phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong hoạt động sản xuất để lập bảng thuyết minh
báo cáo tài chính phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp.
Việc phân loại các chi phí sản xuất theo cách này còn giúp doanh nghiệp phân
tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ
sau.
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế
của chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất bao gồm các khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là tất cả những NVL chi phí chi ra để
cấu tạo nên thực thể của công trình nh vật liệu chính (xi măng, cát, đá, gạch),
các cấu kiện bê tong, và các phụ gia khác. Trong CPNVLTT không bao gồm
các vật liệu phụ, nhiên liệu dùng cho máy thi công.
Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí tiền lơng, các khoản phụ cấp và l-
ơng phụ có tính chất ổn định của công nhân trực tiếp xây lắp thuộc doanh
nghiệp và số tiền trả cho lao động trực tiếp thuê ngoài.
Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ các chi phí trực tiếp phát sinh
trong quá trình sử dụng máy thi công để thực hiện khối lợng công việc xây lắp
bằng máy theo phơng thức thi công hỗn hợp. Do đặc điểm hoạt động của máy
thi công trong xây dựng mà chi phí sử dụng máy thi công chia làm hai loại:
chi phí thờng xuyên và chi phí tạm thời.
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi phí thờng xuyên sử dụng máy thi công gồm: lơng chính, lơng phụ
của công nhân điều khiển máy, phục vụ máychi phí vật liệu, chi phí công cụ,
dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài chi phí sửa chữa
nhỏ (điện, nớc, bảo hiểm xe máy) chi phí khác bằng tiền.
Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: chi phí sửa chữa lớn máy
thi công (đại tu, trùng tu) chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều,
lán, bệ, đờng ray chạy máy) chi phí vận chuyển, tháo dỡ, lắp đặt máy thi công
đến công trờng.
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho quản lý đội xây lắp,
công trình và những chi phí khác không thể hạch toán trực tiếp cho công trình,
bao gồm: lơng nhân viên quản lý đội thi công, chi phí vật liệu, công cụ dụng
cụ dùng cho quản lý độivà các khoản trích tiền lơng của nhân viên đội và công
nhân trực tiếp thi công.
Phân loại chi phí theo cách này giúp cho doanh nghiệp theo dõi đợc
từng khoản mục chi phí phát sinh, là cơ sở xác định giá thành sản phẩm từ đó
đối chiếu với giá thành dự toán của công trình, biết đợc chi phí đó phát sinh ở
đâu, tăng hay giảm so với dự toán. Đồng thời việc phân loại này còn phục vụ
cho công tác kế hoạch toán, phân tích và tính giá thành theo khoản mục, giám
sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành.
Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên phục vụ trực tiếp cho công tác
quản lý và công tác kế toán, chi phí sản xuất còn có thể phân loại theo các tiêu
thức nh :
Căn cứ vào mối quan hệ giữa khả năng quy nạp chi phí và các đối tợng
chịu chi phí gián tiếp chi phí đực chia thành chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp.
Theo mối quan hệ của chi phí với khối lợng công việc, sản phẩm hoàn
thành, chi phí sản xuất đợc chia thành chi phí cố định, chi phí biến đổi, và chi
phí hỗn hợp.
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
8
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp và các loại giá thành trong
doanh nghiệp xây lắp.
Để xây dựng một công trình hạng muc công trình hay hoàn thành một
lao vụ thì doanh nghiệp phải đầu t vào quá trình sản xuất thi công một lợng
chi phí nhất định.Những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra đó sẽ tham gia cấu
thành nên giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm: chi
phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất
chung tính cho từng công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay khối l-
ợng công tác xây dựng hoàn thành đến giai đoạn quy ớc đã nghiệm thu, bàn
giao và đợc chấp nhận thanh toán.
Thông qua chỉ tiêu giá thành sẽ cho ta biết trình độ kỹ thuật thi công, trình
độ tổ chc sản xuất thi công, tình hình sử dụng vật t, thiết bị, lao độngNh vậy tất
cả các mặt hoạt động, các biện pháp quản lý xây lắp đem lại hiệu quả cao hay
thấp đều đợc thể hiện ở chỉ tiêu giá thành. Vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm chi phí
và hạ giá thành để sản phẩm đợc thị trờng chấp nhận.
Nh vậy, bản chất của sản phẩn là kết quả sự dịch chuyển giá trị của các
yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp, công việc lao vụ hoàn thành. Gía thành sản
phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thớc đo bù trừ chi phí và chức năng
lập giá.Trong điều kiện hiện nay, giá bán sản phẩm giá bán sản phẩm xây lắp là
giá nhận thầu. Do đó giá nhận thầu xây lắp biểu hiện giá trị công trình, hạng mục
công trình phải đợc dựa trên cơ sở giá thành dự toán. Thông qua giá bán sản
phẩm xây lắp mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả chi phí.
1.2.2.1. Giá thành dự toán.
Giá thành dự toán là tổng chi phí dự toán để hình thành khối lợng xây
lắp công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán đợc xác định trên cơ
sở các định mức kinh tế, kỹ thuật quy định của nhà nớc và khung giá quy định
áp dụng cho từng lãnh thổ của Bộ tài chính.
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Giá thành dự toán đợc xác định nh sau:
Giá thành dự toán của
công trình, HMCT
=
Giá trị dự toán của từng
công trình, HMCT
-
Lãi định mức
công trình, HMCT
Trong đó: Lãi xuất định mức trong XDCB đợc nhà nớc quy định trong
từng thời kỳ
1.2.2.2. Giá thành kế hoạch
Giá thành kế hoạch là giá thành đợc xây dựng trên cơ sở những điều
kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp thi công.
Để xác định giá thành kế hoạch ta tính theo công thức sau :
Giá thành kế hoạch của
công trình, HMCT
=
Giá thành dự toán của
công trình, HMCT
-
Mức hạ
Giá thành
1.2.2.3 Giá thành thực tế.
Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các chi phí trực tiếp thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện hoàn thành các
khối lợng công tác xây lắp nhất định đợc xác định theo số liệu của kế toán.
Gía thành thục tế là chỉ tiêu giá thành đợc xác định theo số liệu hao phí
thực tế lien quan đến KLXD hoàn thành bao gồm chi phí định mức, vợt định
mức và các chi phí khác. Gía thành thực tế là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả
phấn đấu của doanh ngiệp trong việc tổ chức và sử dụng cac giải pháp kinh tế, kỹ
thuật để thực hiện quá trình san xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh ngiệp.
Trong quá trình hoạt động, để đánh giá chính xác trình độ quản lý của
doanh nghiệp, chất lợng hoạt động sản xuất thi công, tình hình thực hiện kế
hoạch hạ giá thành, ngời ta cần xem xét, so sánh mối quan hệ giữa ba loại giá
thành trên với nhau. Việc đánh giá đó đợc xác định qua mối quan hệ của ba
loại giá thành nh sau:
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Giá thành
dự toán

Giá thành
kế hoạch

Giá thành
Thực tế
Và phải đảm bảo đợc tính thống nhất và thực hiện trên cùng một đối t-
ợng tính gía thành (Công trình, Hạng mục công trình hoặc khối lợng xây dựng
hoàn thành nhất định).
Việc so sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán cho phép đánh giá
chính xác trình độ quản lý của doanh nghiệp trong mối quan hệ với các doanh
nghiệp xây lắp khác.Việc so sánh giá thành thực tế với giá tành kế hoạch cho
phép đánh giá sự tiến bộ hay yếu kém của doanh nghiệp xây lắp trong điều
kiện cụ thế về cơ sở vật chất và trình độ quản lý.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Yêu cầu
quản lý chi phí sản xuất và giá thành.
1.2.3.1 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện khác nhau
của quá trình sản xuất. Chi phí phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành
sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất. Nh vậy có thể thấy giữa chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có sự độc lập tơng đối với nhau.
Giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống, lao động
vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất, xây dựng để hình
thành một công trình, HMCT.
Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại có sự khác
nhau về mặt lợng. Điều đó đợc thể hiện ở những điểm sau:
- Chi phí sản xuất luôn tính trong một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản
phẩm lại liên quan đến cả khối lợng xây dựng dở dang kỳ trớc chuyển sang nhng
lại không bao gồm chi phí thực tế của khối lợng XD DD cuối kỳ.
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
11
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí sản xuất đợc tập hợp theo một thời kỳ nhất định còn giá thành
sản phẩm xây dựng là chi phí sản xuất đợc tính cho một công trình , hạng mục
công trình hay khối lợng công tác xây dựng hoàn thành.
Vậy ta có mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nh sau:
Tổng giá thành
sản phẩm
hoàn thành
=
Chi phí sản
xuất dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí sản
Xuất dở dang
cuối kỳ
Từ phơng trình trên ta thấy giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất
dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc những ngành sản xuất không có
sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát
sinh trong kỳ.
Nh vậy giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa,
phản ánh giá trị thực của khoản hao phí sản xuất. Mọi cách tính chủ quan
không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến
việc phá vỡ mối quan hệ hang hóa tiền tệ, không xác định đợc hiệu quả kinh
doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
1.2.3.2 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành.
Trong cơ chế thị trờng sản phẩm xây dựng cơ bản (XDCB) là hoạt động
chủ yếu của các doanh nghiệp xây lắp (DNXL). Đây là một hoạt động quan
trọng hoặc mở rộng khôi phục, hiện đại hóa các công trình giao thông, thủy
điện, thủy lợi, các khu công nghiệp, các công trình quốc phòng và các công
trình dân dụng khác. Hàng năm chiếm trên dới 30% vốn đầu t của cả nớc và
có xu hớng tăng trong tơng lai do khối lợng công việc XDCB của ngành tăng
nhanh.
Tuy nhiên XDCB có những nét đặc trng riêng khác với những ngành
sản xuất khác do đó để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, phát huy hết tác dụng
của kế toán là công cụ hữu hiệu quản lý sản xuất thì việc tổ chức công tác kế
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
12
Chuyên đề tốt nghiệp
toán nói chung và hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm nói
riêng phải đảm bảo phù hợp với sản phẩm xây lắp.
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm đang là vấn đề sống còn, vấn đề trọng tâm mà các doanh nghiệp quan
tâm. Do đó kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm càng có vai trò
quan trọng, có ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp. Đồng thời cũng là
cơ sở để nhà nớc kiểm soat vốn đầu t XDCB và thu thuế.
1.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.
1.3.1 Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh là các loại chi phí đợc
tập hợp trong một giới hạn nhất định nhằm phục vụ cho công tác kiểm tra,
phân tích chi phí và giá thành sản phẩm.
Việc xác định đúng đắn đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối
tợng tính giá thành có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức tập hợp chi phí
sản xuất cũng nh đảm bảo tính chính xác, kịp thời trong việc xác định giá
thành sản phẩm xây lắp.
Xuất phát từ những đặc điểm sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng, có
quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, sản phẩm đợc sản xuất đơn chiếc riêng
lẻ theo đơn đặt hàng và việc tổ chức sản xuất đợc phân chia thành nhiều công
trờng, nhiều khu vực thi công nên đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có
thể là:
- Từng sản phẩm, từng công trình
- Nhóm sản phẩm nhóm công trình hạng mục công trình.
- Từng đơn hàng
- Từng bộ phận sản phẩm, chi tiết sản phẩm
- Giai đoạn công nghệ- bớc công nghệ.
- Bộ phận, đơn vị sản xuất, tổ đôị, phân xởng- công trờng.
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Ty nhiên để phù hợp với những đặc điểm về tổ chức sản xuất, quản lý
công nghệ, sản phẩmngời ta thờng tập hợp chi phí sản xuất thành từng công
trình, hạng mục công trình để tính giá thành.
1.3.2. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Tùy theo đặc điểm của loại chi phí là chỉ liên quan đến một đối tợng tập
hợp chi phí hay liên quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí mà kế toán có thể
sử dụng một trong hai phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất là phơng pháp tập
hợp trực tiếp hay phơng pháp phân bổ gián tiếp.
1.3.2.1. Phơng pháp tập hợp trực tiếp.
Phơng pháp này áp dụng trong từng trờng hợp chi phí sản xuất phát sinh
có liên quan trực tiếp đến từng đối tợng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt.
Theo phơng pháp này, chi phí sản xuất phát sinh đợc tính trực tiếp cho từng
đối tợng chịu chi phí nên độ chính xác cao hơn.
1.3.2.2. Phơng pháp phân bổ gián tiếp.
Phơng pháp này áp dụng đối với những chi phí gián tiếp liên liêm quan
đến nhiều đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất khác nhau, không tổ chức
ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tợng đợc.Do đó phải tập hợp chung cho
nhiều đổi tợng, sau đó lựa chọn tiêu thức chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ
chi phí này cho từng đối tợng kế toán chi phí. Tiêu thức phân bổ hợp lý phải
thoả mãn hai điều kiện sau:
- Có mối quan hệ trực tiếp với đối tợng phân bổ.
- Có mối quan hệ tơng quan tỷ lệ thuận với số chi phí phân bổ.
Sau khi xác định đợc các tiêu thức phân bổ thích hợp thì việc phân bổ đ-
ợc thực hiện theo trình tự :
B ớc 1 : Xác định hệ số phân bổ (H)
H =
Tổng số chi phí phân bổ
Tổng tiêu chuẩn phân bổ
B ớc 2: Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tợng
SV: Nguyễn Thị Gấm Lớp: KTA CĐ24
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét