Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Kiểm toán xác định giá trị Doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá tại Công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán - AASC

Luận văn tốt nghiệp
với lãi suất lớn hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ ở thời điểm hiện hành vì hoạt
động đầu t vào trái phiếu Chính phủ là hoạt động đầu t ít rủi ro nhất. Nếu ta không
dùng để đầu t, thì sau đó, trong tay ta vẫn có từng ấy giá trị tiền. Nh vậy, khoản
chênh lệch giữa việc đầu t và không đầu t chứng tỏ tiền có khả năng sinh lời, và
ngời ta gọi đó là giá trị thời gian của tiền.
Cũng từ lý luận trên, nếu ta dùng số tiền đó cho đối tợng khác vay để hoạt
động kinh doanh thì sau một khoảng thời gian ta sẽ thu đợc một số tiền lãi từ việc
cho vay. Khoản tiền mà ngời đi vay phải trả cho ngời cho vay gọi là chi phí sử
dụng vốn vay.
Chi phí cơ hội là chi phí lớn nhất trong các cơ hội có thể đợc lựa chọn đã bị bỏ qua.
1.1.3. Doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc, giá trị thực tế của doanh nghiệp
a) Doanh nghiệp
DN là một thuật ngữ trong kinh doanh dùng để chỉ các tổ chức kinh tế, cá
nhân nhằm phân biệt nó với các hình thức kinh doanh có quy mô quá nhỏ. Một tổ
chức kinh tế chỉ đợc coi là DN nếu nó đợc sự thừa nhận về mặt pháp lý trên một số
tiêu chuẩn nào đó.
Các tiêu chuẩn ở đây có thể là mức vốn tối thiểu (vốn pháp định), mục tiêu
hoạt động, ngành nghề, địa điểm, quyền lợi, chủ sở hữu, nhiệm vụ
Xét theo mục tiêu hoạt động, ngời ta có thể chia DN thành 2 loại: DN công
ích và DN kinh doanh.
- DN công ích: là DN đợc thành lập ra nhằm mục tiêu chính trị, xã hội. Lợi
nhuận chỉ là mục tiêu thứ yếu, mục đích của nó là mục tiêu xã hội: không chỉ là
đóng góp đợc bao nhiêu thuế cho nhà nớc mà còn đợc thể hiện ở chỗ giải quyết đ-
ợc bao nhiêu công ăn việc làm, mang lại bao nhiêu thu nhập cho các nhà cấp vốn,
tổng giá trị mà nó đóng góp vào GDP của nền kinh tế
- DN kinh doanh: là một tổ chức kinh tế đợc thành lập nhằm mục tiêu tối đa
hoá lợi nhuận. Lợi nhuận của DN kinh doanh là lợi ích mà DN có thể mang lại cho
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
5
Luận văn tốt nghiệp
nhà đầu t. Lợi ích kinh doanh là ở các khoản thu nhập dới hình thức nh lợi nhuận
sau thuế, lợi tức cổ phần
Theo quan điểm của Nhà nớc Việt nam, công ty Cổ phần là doanh
nghiệp trong đó các cổ đông cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng chia lợi
nhuận, cùng chịu rủi ro tơng ứng với phần vốn góp.Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đợc đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý,
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh
tế xã hội do nhà nớc giao.
DNNN là tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân
sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do
DN quản lý, có tên gọi, có con dấu riêng (theo Điều 1, luật Doanh nghiệp nhà n-
ớc, 20/04/1995).
Nh vậy, ngoài những đặc điểm chung của DN, DNNN còn có những đặc điểm sau:
- DNNN là tổ chức kinh tế đợc thành lập để thực hiện những mục tiêu do Nhà
nớc giao
- DNNN do nhà nớc đầu t vốn nên tài sản trong DN là thuộc sở hữu của nhà
nớc, DN quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nớc.
- DNNN có t cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo quy
định của pháp luật.
- DNNN là DN chịu trách nhiệm hữu hạn
Có 2 loại DNNN là DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích.
- DNNN hoạt động kinh doanh là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu
lợi nhuận.
- DNNN hoạt động công ích là DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ
công cộng, theo các chính sách của nhà nớc hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng an ninh
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
6
Luận văn tốt nghiệp
Nh vậy, DNNN là DN nắm giữ những ngành kinh tế chủ đạo có tác dụng điều
hoà nền kinh tế quốc dân.
b) Giá trị doanh nghiệp
Trớc khi xem xét GTDN, ta thấy cần làm rõ một số đặc điểm của doanh
nghiệp nh sau:
- DN là một đơn vị, một tổ chức kinh tế hoạt động. Thông qua sự hoạt động
mà ngời ta nhận ra DN. DN không phải là một tập hợp các loại tài sản. Khi mà nó
chỉ đơn giản là một sự hỗn loạn các tài sản đơn lẻ, rời rạc mà ngời ta có thể thanh
lý, phát mãi từng thứ riêng biệt nh những hàng hoá thông thờng thì nó không còn
đầy đủ ý nghĩa của một DN. Và do vậy, khái niệm GTDN là một khái niệm chỉ đợc
dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
- DN là một tổ chức vừa phi vật thể, vừa là vật thể. Tuy nhiên, trong nền kinh
tế thị trờng, DN cũng đợc coi là một loại hàng hoá, nó là một loại hàng hoá đặc
biệt. Nó có thể đợc đem rao bán trên thị trờng và bị ảnh hởng bởi quy luật giá trị và
các quy luật khác trên thị trờng.
- DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần
tử trong hệ thống lớn nền kinh tế. Do đó, sự tồn tại của DN ở mối quan hệ của
nó với các phần tử khác của hệ thống tức mối quan hệ với các đơn vị, thể nhân và
pháp nhân kinh tế khác. Sự tồn tại của DN không chỉ đợc quyết định bởi các yếu tố
bên trong DN mà còn bởi các yếu tố bên ngoài nh khách hàng, ngời cung cấp, ngời
cho vay, các luật, chính sách
Doanh nghiệp có tồn tại đợc hay không là nhờ vào các mối quan hệ trên thị tr-
ờng. Các mối quan hệ này mang tính quyết định đến sự phát triển, tồn tại và thành
công của doanh nghiệp. Do đó, khi đánh giá về doanh nghiệp, ngời ta phải quan
tâm đến cả các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp trên thị trờng.
- Nếu nhìn nhận doanh nghiệp bằng con mắt của các nhà đầu t thì việc mua
sắm TSCĐ và lu động không ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tiêu chuẩn để
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
7
Luận văn tốt nghiệp
đánh giá hiệu quả hoạt động, lợi ích của DN đối với các nhà đầu t là ở các khoản
thu nhập từ hoạt động SXKD. Vì mục đích của các nhà đầu t là liệu đặt vốn kinh
doanh của mình và thì sẽ thu đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng vốn. Vì
vậy, theo các nhà đầu t thì giá trị của doanh nghiệp là giá trị của các khoản thu
nhập mà doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu t từ các hoạt động kinh doanh
của mình.
Tóm lại, qua việc phân tích trên ta có thể thấy tồn tại hai cách tiếp cận trong
việc xác định GTDN là:
- Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong DN
- Đánh giá giá trị của các yếu tố, tổ chức hoặc bằng một kỹ thuật nào đó
để lợng hoá các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu t.
1.2. Tính cần thiết phải xác định giá trị Doanh nghiệp nhà nớc để cổ phần
hoá.
Trong nền kinh tế thị trờng, DN đựơc coi nh một loại hàng hoá, chúng có thể
đợc mua bán, trao đổi. Vì vậy, nhu cầu đánh giá hay xác định giá trị đối với loại tài
sản này xuất hiện là một đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên. Trong việc điều hành kinh tế
vĩ mô của nhà nớc cũng nh trong hoạt động quản trị kinh doanh của các DN luôn
cần thiết các thông tin về GTDN. Giá trị của DN là bao nhiêu, cao hay thấp luôn là
mối quan tâm của các pháp nhân và thể nhân kinh tế có lợi ích liên quan, gắn bó
trực tiếp đến các DN.
1.2.1. Cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nớc là xu hớng tất yếu
khách quan khi chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng thì xu hớng CPH một bộ phận các DNNN đã diễn
ra nh là một quy luật, điều này có thể đợc giải thích bởi 2 lý do là:
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
8
Luận văn tốt nghiệp
1) Các DN nhỏ nếu muốn tồn tại trên thị trờng cạnh tranh gay gắt với
các DN lớn thì phải góp vốn để tạo ra DN lớn có sức cạnh tranh lớn hơn. Vì u thế
của DN lớn là có số lợng vốn lớn, quy mô sản xuất lớn, và có lợi thế trong việc
nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, đổi mới quy trình công nghệ để có
sản phẩm có chất lợng tốt, giá thành rẻ và có thể tiêu thụ tốt hơn sản phẩm cùng
loại.
2) Cũng do sự cạnh tranh và rủi ro trong kinh doanh, các DN lớn tồn tại
một khoản tiền vốn nhàn rỗi, không muốn gặp nhiều rủi ro nên phải phân tán số
vốn của mình vào các DN khác bằng cách góp vốn mua cổ phần ở nhiều DN khác.
Đây là xu hớng sát nhập các DN nhỏ thành DN lớn trên thế giới.
Điều này có nghĩa là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các DN dẫn đến
quy luật đào thải, các DN nhỏ sẽ bị chèn ép dẫn đến phá sản. Các DN nhỏ không
muốn phá sản, thì phải thu hút vốn thêm nhằm mở rộng thị trờng, phát triển sản
xuất. Cũng do tính cạnh tranh khốc liệt của thị trờng mà trong các DN lớn tồn tại
một lợng vốn nhàn rỗi, để giảm rủi ro trong đầu t, DN lớn này sẽ phân tán nguồn
vốn đầu t của mình. DNNN với sự quản lý kém, hoạt động thiếu hiệu quả cũng
nằm trong xu thế khách quan đó.
Thực tiễn nhiều thập kỷ qua cho thấy, kinh tế quốc dân kém hiệu quả hơn
kinh tế tập thể và t nhân. Các DNNN làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ. Nguyên nhân
chính là do không thực sự có động lực để thúc đẩy làm ra nhiều lợi nhuận. Sự thua
lỗ này lại đợc Nhà nớc bao cấp, tài trợ nhằm đảm bảo cho DNNN hoạt động tốt
theo chủ trơng kế hoạch KTXH của Nhà nớc. Điều này làm mất tính tự chủ của
DN và tạo sự ỷ lại vào nguồn vốn Nhà nớc.
Từ các thực tế trên cho thấy, xu hớng thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết
của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng, xu hớng đa dạng hoá các loại hình sở hữu.
Sở hữu nhà nớc không đồng nghĩa với hiệu quả và mục đích của sự phát triển
mà chỉ là một công cụ quan trọng và hữu hiệu cùng với công cụ tài chính và tiền
tệ để nhà nớc thực hành việc điều tiết định hớng vào nền kinh tế, khu vực kinh tế
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
9
Luận văn tốt nghiệp
nhà nớc chỉ nên thu hẹp ở những lĩnh vực có vai trò quyết định đến sự phát triển
và ổn định của nền kinh tế nh giao thông vận tải, bu điện,.
Các DNNN ở Việt nam hoạt động kém hiệu quả. Nguyên nhân là do:
- Hệ thống kế hoạch hoá và tài chính cồng kềnh và cứng nhắc vì đợc quản lý
theo hệ thống hành chính từ trên xuống theo nhiều cấp trung gian.
- Tính tự chủ trong quản lý và kinh doanh bị hạn chế vì nhiều quy chế liên
quan đến quyền sở hữu của DN.
- Sự độc quyền của các DNNN trên thị trờng đựơc pháp luật Việt nam củng
cố đã làm mất đi những động lực nâng cao hiệu qủa SXKD
- Đợc tài trợ bởi nguồn ngân sách nhà nớc, do đó không có động lực nâng cao
hiệu quả kinh doanh để tồn tại trong cạnh tranh với các DN t nhân vì không thể bị
chết.
- Hoạt động của DNNN là nhằm đảm bảo cho xí nghiệp có hoạt động dễ chịu
và ổn định, tránh né sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên, do đó dẫn đến quan
niêu, mua sắm thừa thiết bị, cơ chế phình to
- Do phải tài trợ cho các DNNN bị lỗ, nên nhà nớc bị thâm hụt ngân sách và
nợ nớc ngoài nhiều.
Vì vậy, nhà nớc ta đã thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết của Nhà nớc
trong nền kinh tế thị trờng và đã thực hiện chủ trơng CPH ngay sau khi chuyển
sang nền kinh tế thị trờng.
Do đó, để cải thiện DNNN cho phù hợp với cơ chế thị trờng, cần thiết phải cổ
phần hoá.
Tuy nhiên, CPH không phải là đơn giản, chúng ta phải giải quyết rất nhiều
vấn đề phức tạp:
- Xác định GTDN nh thế nào là chính xác
- Đất có tính vào GTDN không và tính nh thế nào
- Giải quyết vấn đề lao động nh thế nào khi DNNN chuyển sang công
ty cổ phần.
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
10
Luận văn tốt nghiệp
Và một trong những vấn đề bức xúc nhất mà nớc ta không ngừng nghiên cứu
và hoàn thiện từ sau đổi mới đến nay là vấn đề xác định GTDN. Việc đa ra các ph-
ơng án, đề án thực hiện khác xa so với thực tế, GTDN qua kiểm kê cho thấy có
nhiều chênh lệch và thờng không chính xác.
1.2.2. Cổ phần hoá là giải pháp cơ bản để tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà n-
ớc trong giai đoạn hiện nay ở nớc ta.
CPH là một trong nhiều cách để t nhân hoá tài sản của DN. T nhân hoá là
quá trình chuyển sở hữu nhà nớc sang sở hữu t nhân. CPH có tác dụng:
- Đa dạng hoá quyền sở hữu và cụ thể hoá chủ sở hữu.
- Thơng mại hoá mọi hoạt động của DN (chứ không phải theo mệnh lệnh
hành chính, cắt bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nớc vào hoạt động DN).
- Luật pháp hoá các tổ chức quản lý (theo luật Công ty và luật khác ).
- Nâng cao hiệu quả SXKD của DN.
Xét về mặt hình thức, CPH là việc nhà nớc bán một phần hay toàn bộ giá trị
cổ phần của mình trong xí nghiệp cho các đối tợng, tổ chức hoặc t nhân trong và
ngoài nớc hoặc cho cán bộ quản lý, công nhân trong xí nghiệp bằng đấu giá công
khai hay thông qua thị trờng chứng khoán để hình thành các công ty TNHH hoặc
công ty cổ phần.
Xét về mặt thực chất, CPH là phơng thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển
hình thái kinh doanh một chủ sở hữu (Nhà nớc) thành nhiều chủ sở hữu để tạo ra
một mô hình DN phù hợp với nền kinh tế thị trờng và đáp ứng đợc yêu cầu kinh
doanh hiện đại.
II. Các yếu tố ảnh hởng đến giá trị doanh nghiệp
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
11
Luận văn tốt nghiệp
Nh vậy, qua trên ta đã có cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp thông qua các
đặc điểm của nó. Tuy nhiên, để xác định đợc giá trị doanh nghiệp, ngời ta phải
quan tâm đến các yếu tố ảnh hởng đến doanh nghiệp.
GTDN đợc đo lờng bằng khoản thu nhập mà DN mang lại cho nhà đầu t nhng
độ lớn của thu nhập đó là bao nhiêu thì nó lại phụ thuộc rất lớn vào sự tồn tại của
doanh nghiệp với các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó là các
yếu tố vốn liếng, tài sản, kỹ thuật, khả năng thích ứng của nó với môi trờng bên
ngoài, các quan hệ hợp tác và các yếu tố khách quan khác nh các chính sách kinh
tế, môi trờng kinh doanh,
2.1. Các yếu tố thuộc về môi trờng kinh doanh
Trớc hết phải khẳng định GTDN chỉ đợc đánh giá trong một môi trờng kinh
doanh nhất định. Môi trờng kinh doanh đợc chia làm hai loại là môi trờng kinh
doanh tổng quát và môi trờng đặc thù.
2.1.1. Môi trờng kinh doanh tổng quát
Môi trờng kinh doanh tổng quát bao gồm: môi trờng kinh tế, môi trờng chính
trị, môi trờng văn hoá - xã hội, môi trờng tự nhiên, môi trờng kỹ thuật và môi trờng
dân số
- Môi trờng kinh tế:
Môi trờng mà DN tồn tại là một môi trờng kinh tế cụ thể. DN chịu ảnh hởng
của tốc độ phát triển kinh tế, mức độ ổn định của nền kinh tế, tốc độ lạm phát, tỷ
suất đầu t, mức độ ổn định của đồng tiền, tỷ giá trên thị trờng chứng khoán, Các
yếu tố trên đều là những yếu tố khách quan nhng nó lại có tác động một cách
không nhỏ đến sự hoạt động của DN. Một DN không thể hoạt động tốt trong một
môi trờng mà lạm phát cao, tỷ suất đầu t cao,
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
12
Luận văn tốt nghiệp
Mỗi sự thay đổi nhỏ trong các yếu tố này bao giờ cũng ảnh hởng tới sự đánh
giá về DN. Nền kinh tế với tốc độ phát triển cao chứng tỏ nhu cầu đầu t tiêu dùng
cao, ngợc lại, nền kinh tế với mức lạm phát cao, chứng tỏ sự bất ổn định về tỷ giá
đồng tiền là dấu hiệu chứng tỏ sự bất ổn về môi trờng hoạt động của DN. Do đó,
mọi sự đánh giá về DN, trong đó có GTDN sẽ bị đảo lộn hoàn toàn.
- Môi trờng chính trị:
Hoạt động SXKD chỉ có thể tồn tại và phát triển trong một môi trờng có sự ổn
định về chính trị ở một mức độ nhất định. Những bất ổn trong xã hội (tệ nạn xã
hội, chiến tranh, ) là những yếu tố tác động rất lớn đến hoạt động SXKD của
DN.
Các yếu tố của môi trờng chính trị liên quan đến SXKD bao gồm
+) Tính đầy đủ, rõ ràng, chi tiết, đồng bộ của hệ thống luật pháp
+) Quan điểm của nhà nớc đối với SXKD thông qua các văn bản pháp quy nh
bảo vệ SXKD, bảo vệ nhà đầu t, bảo vệ ngời tiêu dùng, đầu t nớc ngoài, quan điểm
phân biệt đối xử thực hiện trong luật thuế, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ
+) Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của các
công dân và các tổ chức sản xuất. Pháp luật đã đợc ban hành nhng không trở thành
hiện thực, tệ nạn buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, hàng nhái là biểu hiện của một
môi trờng chính trị gây bất lợi cho sản xuất.
+) Xu hớng, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế của chính
phủ với các quốc gia khác trong tiến trình toàn cầu hoá và quan điểm cá nhân của
những ngời đứng đầu Chính phủ cũng tác động to lớn đến SXKD.
Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế có sự tham gia quản lý của Nhà nớc. Do
đó, các chính sách kinh tế, các luật, các quan điểm kinh tế có ảnh hởng trực tiếp
đến SXKD của DN. Môi trờng kinh tế và môi trờng chính trị đóng vai trò nh những
điều kiện thiết yếu để DN có thể hoạt động. Vì vậy, khi đánh giá DN bao giờ cũng
phải xem xét các yếu tố này.
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
13
Luận văn tốt nghiệp
- Môi trờng Văn hoá - Xã hội
Mỗi DN tồn tại trong một môi trờng văn hoá nhất định. Môi trờng văn hoá
bao gồm những hệ t tởng của số đông cộng đồng về lối sống, đạo đức, tác phong,
quan niệm về chân, thiện, mỹ, quan niệm về nhân cách, văn minh xã hội, thực
hiện trong tập quán sản xuất và tiêu dùng.
Môi trờng xã hội thể hiện ở số lợng và cơ cấu dân c, giới tính, độ tuổi, mật độ
sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu ngời và hàng loạt các vấn đề mới nảy
sinh nh ô nhiễm môi trờng, tài nguyên cạn kiệt
Thói quen tiêu dùng, tâm lý tiêu dùng, cơ cấu dân c, mật độ dân số, thu nhập
bình quân đầu ngời, ảnh h ởng trực tiếp đến quy mô và cách thức SXKD. SXKD
chỉ có thể tồn tại khi mà nó đảm bảo các yêu cầu về Văn hoá - Xã hội nh đảm bảo
không bị ô nhiễm môi trờng, tài nguyên cạn kiệt, DN ra đời là để đáp ứng những
đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng nơi DN
hoạt động. Chính vì thế đánh giá về DN không thể bỏ qua những yếu tố, những đòi
hỏi bức xúc của môi trờng Văn hoá - Xã hội trong hiện mà còn phải thực hiện dự
báo đợc sự ảnh hởng yếu tố này đến SXKD của DN trong tơng lai.
- Môi trờng kỹ thuật, công nghệ
Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin. Một loạt những phát
minh đợc ứng dụng trong thực tế gây ảnh hởng trực tiếp, rõ rệt đến đời sống hàng
ngày của con ngời nh hàng loạt các phát minh mới về công nghệ sinh học: sinh sản
vô tính, công nghệ máy tính, Những phát minh này không chỉ ảnh h ởng đễn các
phơng thức sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp mà còn ảnh hởng đến nhu
cầu sản phẩm và chất lợng sản phẩm trong DN. Các sản phẩm sản xuất ra ngày
càng đa dạng và phong phú, chứa đựng một hàm lợng lớn tri thức. Đây là xu hớng
tiến tới nền kinh tế tri thức trên toàn cầu.
Nguyễn Thị Hoài Kiểm toán 42C
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét