Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Tạp phẩm và bảo hộ lao động

Vốn là một trong những yếu tố quan trọng nhất của q trình sản xuất
kinh doanh, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế nói
chung và đối với doanh nghiệp nói riêng, thể hiện trên các mặt sau:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết
định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh
nghiệp theo luật định.
- Vốn đóng vai trò quyết định mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, đổi mới quy trình cơng nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất kinh doanh, góp phần tăng năng suất lao động và giảm giá thành
chi phí của doanh nghiệp.
- Vốn là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh
đạo doanh nghiệp, nó là một điều kiện thực hiện các chiến lược, sách lược
kinh doanh, nó cũng là “dầu nhớt” bơi trên cho cỗ máy kinh tế vận động.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố về giá trị. Như vậy,
doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ nhu vầu về vốn kinh doanh sẽ giúp cho doanh
nghiệp chủ động về tài chính, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo sức cạnh
tranh. Còn ngược lại, nếu vốn khơng được bảo tồn và tăng lên trong mỗi chu
kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại
lớn dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh tốn, sẽ làm cho doanh
nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí,
khơng có hiệu quả.
Tóm lại, vai trò của vốn kinh doanh đã được K.Marx khẳng định: “ Tư
Đồng thời, K.Marx còn nhấn mạnh:” khơng một hệ thống nào có thể tồn tại
nếu khơng vượt qua sự suy giảm về hiệu qủa tư bản”. bản đứng vị trí hàng
đầu vì tư bản là tương lai”.
Căn cứ vào khái niệm và vai trò của vốn ở trên, ta có thể thấy vốn có
những đặc trưng cơ bản sau:
+ Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điều này có nghĩa
vốn là sự biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vơ hình như: Nhà
xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, bằng phát minh, sáng chế Với tư cách
này các tài sản tham gia vào q trình sản xuất kinh doanh nhưng nó khơng
bị mất đi mà thu hồi được giá trị.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
+ Vốn ln vận động để sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền,
nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để trở thành vốn thì đồng tiền
phải được đưa vào hoạt động kinh doanh để sinh lời. Trong q trình vận
động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm
cuối cùng của vòng tuần hồn phải là giá trị- là tiền. Đồng vốn đến điểm
xuất phát mới với giá trị lớn hơn. Đó cũng là ngun tắc đầu tư, sử dụng,
bảo tồn và phát triển vốn. Nói một cách khác, vốn kinh doanh trong q
trình tuần hồn ln có ở giai đoạn của q trình tái sản xuất và thường
xun chuyển từ dạng này sang dạng khác. Các giai đoạn này được lặp đi
lặp lại theo một chu kỳ, mà sau mỗi chu kỳ vốn kinh doanh được đầu tư
nhiều hơn. Chính yếu tố này đã tạo ra sự phát triển của các doanh nghiệp
theo quy luật tái sản xuất mở rộng.
+ Trong q trình vận động vốn khơng tách rời chủ sở hữu: Mỗi
đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất đinh, nghĩa là khơng có những đồng vốn
vơ chủ, ở đâu có đồng vốn vơ chủ thì ở đó sẽ có sự chi tiêu, lãng phí, kém
hiêu quả. ở đây vần có sự phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó
là hai quyền năng khác nhau. Tuỳ theo hình thức đầu tư mà người sở hữu và
người sử dụng vốn có thể đồng nhất hay tách rời. Song, dù trường hợp nào
đi chăng nữa, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và phải
được tơn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Có thể nói đây là một ngun
tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn. Nó cho
phép huy động được vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh,
đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Nhận thức được đặc trưng
này sẽ giúp doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
+ Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có
thể phát huy tác dụng: Muốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, vốn phải được
tập trung thành một lượng đủ lớn để mua sắm máy móc thiết bị, ngun vật
liệu cho sản xuất và chủ động trong các phương án sản xuất kinh doanh.
Muốn làm được điều đó, các doanh nghiệp khơng chỉ khai thác các tiềm
năng về vốn của mình, mà phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác
như phát cổ phiếu, góp vốn liên doanh liên kết
+ Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hơm nay có giá trị hơn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
giá trị đồng tiền ngày hơm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố như: đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị Trong cơ chế kế hoạch
hố tập trung, vấn đề này khơng được xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước đã tạo
ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều
kiện kinh tế thị trường cần phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn,
bởi do ảnh hưởng sự biến động của giá cả thị trường, lạm phát nên sức
mua của đồng tiền ở các thời điểm là khác nhau.
+ Vốn là loai hàng hố đặc biệt: Những người sẵn có vốn có thể đưa
vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì vay. Nghĩa là những người
đi vay được quyền sử dụng vốn của ngườ cho vay. Người đi vay phải mất
một khoản tiền trả cho người vay. Đây là một khoản chi phí sử dụng vốn mà
người đi vay phải trả cho người cho vay, hay nói cách khác chính là giá của
quyền sử dụng vốn. Khác với các loại hàng hố thơng thường khác, “ hàng
hố vốn “ khi bán đi sẽ khơng mất quyền sử hữu mà chỉ mất quyền sử dụng
trong một thời gian nhất đinh. Việc mua bán này diễn ra trên thị trường tài
chính, giá mua bán tn theo quan hệ cung- cầu về vốn trên thị trường.
+ Trong nền kinh tế thị trường, vốn khơng chỉ được biểu hiện bằng
tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài
sản vơ hình như: Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền,
phát minh sáng chế, bí quyết cơng nghệ Cùng với sự phát triển của kinh tế
thị trường thì khoa học kỹ thuật, cơng nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Điều
này làm cho tài sản vơ hình ngày càng đa dạng phong phú, đóng góp một
phần khơng nhỏ trong việc tạo ra khả nằng sinh lời của doanh nghiệp.
Từ những đặc trưng trên cho phép ta phân biệt giữa tiền và vốn : giữa
một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp và vốn. Vốn kinh doanh được sử
dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tức là cho mục đích tích luỹ chứ
khơng phải mục đích tiêu dùng như một số quỹ khác trong doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh được ứng ra cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh và phải
được th về khi chu kỳ kinh doanh kết thúc. Và lại được ứng cho chu kỳ tiếp
theo. Vì vậy, kinh doanh khơng thể “ tiêu dùng” như một số quỹ khác trong
doanh nghiệp. Mất vốn kinh doanh đồng nghĩa với nguy cơ phá sản doanh
nghiệp. Ngồi ra, muốn có vốn thì phải có tiền song có tiền chưa hẳn là đã
có vốn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tiền được coi là vốn phải thoả mãn những điều kiện sau:
 Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hố nhất định, tức là phải
được đảm bảo bằng một lượng hàng hố nhất định có thực.
 Tiền phải được tập trụng, tích tụ thành một khoản nhất định đủ sức
đầu tư cho một dự án kinh doanh nào đó. Nếu tiền rải rác, khơng gom thành
khoản thì khơng làm được gì.
 Khi đã đủ về lượng, tiền phải vận động nhằm mục đích sinh lời.
Cách thức, hình thái vận động của tiền phụ thuộc vào phương thức kinh
doanh.
Ngồi những đặc trưng cơ bản trên, tiền còn có một số đặc trưng nữa
mang tính riêng biệt như:
+ Là nguồn duy nhất sáng tạo ra giá trị mới.
+ Vừa là chủ thể quản lý vừa là đối tượng quản lý.
+ Tiền ẩn trong mọi người, phụ thuộc vào tư tưởng, tình cảm, mơi
trường chỉ biểu hiện khi tham gia vào q trình sản xuất kinh doanh.
2. Phân loại vốn kinh doanh.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ
hay hoạt động bất cứ ngành nghề gì, các doanh nghiệp cần phải có một
lượng vốn nhất định. Số vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài
sản. Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp quản lý vốn kinh doanh và
sử dụng vốn kinh doanh có hiêu quả là nội dung quan trọng nhất, có tính
chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thối của doanh nghiệp. Do
vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta vần phải nắm được
vốn có những loại nào, đặc biệt vận động của nó ra sao Có nhiều cách
phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có thể có nhiều
tiêu thức phân loại vốn kinh doanh khác nhau.
2.1. Phân loại vốn trên góc độ pháp luật, vốn bao gồm :
- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có đẻ thành lập doanh
nghiệp do pháp luật quy định, đảm bảo năng lực kinh doanh đối với từng
ngành nghề và từng loại hình sở hữu của doanh nghiệp. Dưới mức vốn pháp
định thì khơng đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Vốn điều lệ: là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều
lệ của Cơng ty (doanh nghiệp). Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo
từng ngành nghề , vốn điều lệ khơng được thấp hơn vốn pháp định.
2.2. Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành các loại sau:
- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp,
tức là số vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của cơng ty
trách nhiệm hữu hạn, cơng ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của
nhà nước giao.
- Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết kiên doanh
với nhau để hoạt động thương mại hoặc dịch vụ
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà
nước bổ sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn do sự đóng góp
của các thành viên hoặc, do bán trái phiếu
- Vốn đi vay: là các khoản nợ phát sinh trong q trình kinh doanh mà
doanh nghiệp có nhiệm vụ phải thanh tốn cho các tác nhân kinh tế khác
như ngân hàng, các tổ chức kinh tế, phải trả nhà nước, phải trả cho người
bán Ngồi ra, còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị
nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng.
2.3. Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn.
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành hai loại là vốn thường
xun và vốn tạm thời.
- Vốn thường xun: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn
của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn được dùng để tài trợ cho các hoạt động
đầu tư mang tính dài hạn của doanh nghiệp.
- Vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.4. Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển:
Trong q trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên
tục. Nó biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến
tư liệu lao động, hàng hố dự trữ Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đặc điểm chu chuyển vốn, theo đó người ta phân chia vốn thành hai loại là
vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, hay nói cách
khác: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất biểu
hiện dưới giá trị ban đầu để đầu tư vào các tài sản cố định nhằm phục vụ cho
hoạt động được kinh doanh, mà đặc điểm của nó là ln chuyển dần dần
từng phần vào giá trị của sản phẩm qua nhiều chu kỳ sản xuất và hồn thành
một vòng tuần hồn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Bộ phận vốn
cố định trở về tay người sở hữu (chủ doanh nghiệp) dưới hình thái tiền tệ
sau khi tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ hàng hố của mình.
- Vốn lưu động: là một bộ phận của vốn sản xuất được biểu hiện bằng
số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho q trình tái sản
xuất của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xun liên tục, nó
được chuyển tồn bộ một lần vào giá trị sản phẩm cà được thu hồi sau khi
thu được tiền bán sản phẩm.
Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn cho thay mõi phương
pháp có ưu điểm và nhược điểm khác nhau, từ đó doanh nghiệp có các giải
pháp huy động và sử dụng vốn phù hợp, có hiệu quả.
3. Các bộ phận cấu thành, đặc điểm vốn và nguồn vốn kinh doanh
của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành bởi hai bộ phận là
vốn cố định và vốn lưu động. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, ngành
nghề kinh doanh, cơng nghệ sản xuất áp trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật
mà các doanh nghiệp xác định được tỷ lệ vốn hợp lý. Việc xác định cơ cấu
vốn là yếu tố quan trọng, nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi
doanh nghiệp.
3.1. Vốn cố định của doanh nghiệp.
3.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn cố định.
Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Hay nói cách
khác: số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản
cố định vơ hình và hữu hình nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh được gọi là
vốn cố định của doanh nghiệp. Đây là số vốn đầu tư ứng trước, số vốn này
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nếu được sử dụng có hiệu quẩ sẽ khơng mất đi mà doanh nghiệp sẽ thu hồi
lại sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hố hay dịch vụ của mình. Do đó, để
biểu hiện rõ hơn về vốn cố định của doanh nghiệp, chúng ta xem xét hình
thái biểu hiện của nó, tức là dựa trên cơ sở nghiên cứu về tài sản cố định.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tư liệu sản
xuất. Căn cứ vào tính chất, tác dụng, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ
phận là tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động được sử
dụng để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm cho doanh
nghiệp. Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia trực
tiếp hoặc gián tiếp vào một hay nhiều chu kỳ sản xuất. Trong qua trình đó,
giá trị của chúng bị giảm đi mặc dù giá trị sử dụng vẫn như ban đầu. Phần
giá trị giảm đi được chuyển vào giá trị của sản phẩm. Do đó qua các chu kỳ,
giá trị của tư liệu lao động được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm.
Tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động chủ yếu quan trọng nhất của
doanh nghiệp. Đó là những tư liệu lao động như máy móc thiết bị, nhà
xưởng, phương tiện vận chuyển Khi tham gia vào sản xuất, chúng khơng
bị thay đổi về hình thái ban đầu, giá trị của chúng được chuyển dần vào giá
trị của sản phẩm. Sau một hay nhiều chu kỳ sản xuất giá trị của tài sản cố
định sẽ được chuyển hết vào giá trị của sản phẩm, khi đó tài sản cố định đã
hết thời hạn sử dụng. Quyết định số 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996
của Bộ tài chính quy định, mọi tư liệu lao động được coi là tài sản cố đinh
thoả mãn đủ hai điều kiện sau:
- Thời gian sử dụng tối thiểu là một năm
- Giá trị phải đạt đến một độ lớn nhất định. Hiện nay áp dụng mức tối
thiểu là 5 triệu đồng.
Như phân tích ở trên, khi tham gia vào q trình sản xuất kinh doanh,
sự vận động tài sản cố định có những đặc điểm sau:
- Về mặt hiện vật: Tài sản cố định tham gia hồn tồn và nhiều lần vào
q trình sản xuất kinh doanh và nó bị loại ra khỏi q trình sản xuất kinh
doanh.
- Về mặt giá trị: Giá trị của tài sản số định sẽ được chuyển dịch dần
từng phần vào giá trị hàng hố, sản phẩm mà nó tạo ra trong q trình sản
xuất.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Do đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định
đến hình thái biểu hiện của vốn cố định trên hai góc độ đó là: Vốn dưới hình
thái hiện vật và vốn tiền tệ.
- Phần giá trị hao mòn của tài sản cố định được dịch chuyển dần vào
giá trị của sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Bộ phận giá trị này là
yếu tố chi phí sản xuất và cấu thành nên giá thành sản phẩm, biểu hiện dưới
hình thức tiền tệ gọi là khấu hao tài sản cố định. Số tiền khấu hao này được
trích lại và tích luỹ thành quỹ gọi là quỹ khấu hao tài sản cố định, hay là
vốn tiền tệ của doanh nghiệp, nhằm mục đích để tái sản xuất tài sản cố định,
duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Qua các chy kỳ sản xuất kinh
doanh, phần vốn tiền tệ này tăng dần.
- Phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định “trong hình thái
hiện vật của tài sản cố định mà doanh nghiệp đang sử dụng. Phần giá trị này
giảm dần qua các chy kỳ cùng với sự tăng lên của phần vốn tiền tệ. Khi tài
sản cố định hết thời hạn sử dụng cũng là lúc phần vốn hiện vật bằng khơng
và phần vốn tiền tệ đạt đến giá trị ứng ra ban đầu về tài sản cố định. Về mặt
lý thuyết, doanh nghiệp đã có thể đầu tư tài sản cố định mới với giá trị tương
đương để thay thế tài sản cũ. Vốn cố định đã hồn thành một vòng ln
chuyển.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất, là điều kiện
quan trọng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng tích
luỹ và phát triển doanh nghiệp. Với vai trò quan trọng như vậy, nên việc
nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng tài sản cố định tức là việc tăng cường
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định khơng những có vai trò quan trọng
đối với doanh nghiệp, mà còn góp phần cơ khí hố, tự động hố sản xuất
kinh doanh, phát triển sản xuất xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân.
3.1.2. Phân loại vốn cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả, ta phải nghiên cứu các
phương pháp phân loại và kết cấu của tài sản cố định. Song, tuỳ theo từng
căn cứ khác nhau mà có thể phân chia tài sản cố định thành những loại khác
nhau.
* Căn cứ váo hình thái biểu hiện: Tài sản cố định được chia thành:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình
thái vật chất, có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ
kinh doanh nhưng vẫn giữ ngun hình thái ban đầu như: Nhà cửa, vật kiến
trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải
- Tài sản cố định vơ hình: là những tài sản cố định khơng có hình thái
vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến
nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như: chi phí bằng phát minh
sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm
* Căn cứ vào cơng dụng kinh tế : Tài sản cố định được chia thành:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp
được hình thành sau q trình thi cơng, xây dựng và được sử dụng trong q
trình sản xuất kinh doanh như: Nhà xưởng, trụ sở làm việc
- Máy móc thiết bị: là tồn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Máy thiết bị động
lực, thiết bị chun dùng, máy móc cơng tác
- Phương tiện vận tải, truyền dẫn: là các phương tiện vận tải dùng
cho hoạt động vận chuyển sản phẩm, hàng hố do q trình kinh doanh tạo
ra.
- Thiết bị và dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong
cơng tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính,
thiết bị điện tử
- Các loại tài sản cố định khác: là những loại tài sản cố định chưa
được liệt kê vào các loại trên.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tài sản cố định được chia thành:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh: là những
tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động
sản xuất kinh doanh phụ của cơng nghiệp như: nhà xưởng, máy móc thiết bị,
phương tiện vận tải
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh
quốc phòng: là những tài sản cố định do doanh nghiệp quản lý và sử dụng
vào các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, đảm bảo an ninh quốc phòng của
doanh nghiệp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Tài sản cố định của doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác
hoặc nhà nước theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Căn cứ vào hình thức sử dụng: Tài sản cố định được chia thành
- Tài sản cố định đang sử dụng: là những tài sản cố định của doanh
nghiệp đang sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động phúc
lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng của doanh nghiệp.
- Tài sản cố định chưa cần sử dụng: là những tài sản cố định cần thiết
cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh
nghiệp song hiện tại chưa cần sử dụng, đang được dự trữ để sử dụng sau
này.
- Tài sản cố định khơng cần sử dụng: là những loại tài sản khơng cần
thiết hay khơng phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cần được thanh lý, nhượng bàn để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban
đầu.
Mỗi cách phân loại có các ý nghĩa khác nhau, cho phép nhà quản trị
đánh giá được tình hình tài sản cố đinh, xem xét kết cấu tài sản cố định của
doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp tác động để sử dụng vốn cố định có hiệu
quả hơn.
3.1.3. Cơ cấu vốn cố định:
Cơ cấu vốn cố định là tỷ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định trong
tổng số vốn cố định. Nghiên cứu cơ cấu vốn cố định cho phép đánh giá việc
đầu tư có đúng đắn hay khơng và nó cho phép xác định hướng đầu tư vốn cố
định trong tương lai.
Cơ cấu vốn cố định và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu quan trọng
nói lên trình độ kỹ thuật, khả năng phát triển hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp giúp cho việc phát triển phương hướng tái sản xuất tài sản cố
định.
3.1.4. Nguồn vốn cố định .
Vốn cố định được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn
vốn pháp định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh liên kết.
- Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách nhà nước
cấp, do cấp trên cấp phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét